Skip to content
Banner 10.2024
Ngôn ngữ

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles” của thánh Tôma Aquinô - Kỳ XVI

Văn phòng Học Viện
2025-11-29 15:33 UTC+7 15
Tác phẩm "ĐÀM ĐẠO VỀ SUMMA CONTRA GENTILES CỦA THÁNH TÔMA AQUINÔ", của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP., là lời giới thiệu và tóm tắt về bộ Summa Contra Gentiles – bộ tổng luận quan trọng nhưng ít được biết đến của thánh Tôma Aquinô. Học viện Thần học Đa Minh đã giới thiệu cuốn sách này trước đây. Tác giả và Học viện Thần học Đa Minh tiếp tục đăng nội dung của cuốn sách, theo từng kỳ tương ứng với các mục trong bố cục tác phẩm, nhằm phục vụ nhu cầu của độc giả được rộng rãi hơn.

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles”

của thánh Tôma Aquinô

(1225-1274)

*****

Kỳ XVI

Mục 14. Sự quan phòng đối với loài người (phần 2)

Luật Thiên Chúa không chỉ đề ra những mệnh lệnh mà còn có các lời khuyên nữa. Tại sao vậy?

Điều thiện tối cao của con người hệ ở gắn bó với Thiên Chúa và những sự thần linh. Luật Chúa cũng bao gồm các lời khuyên, ngõ hầu con người hướng tới Chúa cách thong dong hơn, không bị vướng mắc bởi những bận rộn đời này, trong tầm mức có thể thực hiện khi còn sống trên trần gian[1]. Dĩ nhiên là luật Chúa không đề ra lời khuyên liên quan đến những sự cần thiết để được cứu độ, mà chỉ liên quan đến những điều có thể giúp con người đạt đến một sự hoàn thiện hơn. Qua các lời khuyên, con người được mời gọi khước từ những điều thiện thấp kém để đạt đến những điều thiện cao hơn. Con người thường bị bận tâm lo lắng bởi ba điều: 1/ quyết định điều gì phải làm và phải chung sống với ai; 2/ quyết định có nên kết hôn và sinh đẻ con cái hay không; 3/ tìm kiếm của cải để nuôi sống mình.

Để cất mối bận tâm về của cải vật chất, luật Chúa đưa ra lời khuyên khó nghèo, ngõ hầu khi từ bỏ những gì có thể ràng buộc tâm trí, như lời Chúa Giêsu: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, hãy về, bán những gì anh sở hữu và phân phát cho người nghèo, thì anh sẽ được kho tàng trên trời; rồi đến đây và theo tôi” (Mt 19,21). Để cất mối bận tâm về vợ con, có lời khuyên trinh khiết, như thánh Phaolô viết: “Về các trinh nữ, tôi không có lời truyền nào của Chúa, nhưng tôi đưa ra một lời khuyền” (1 Cr 7,25), và lời khuyên như thế này: “kẻ không kết hôn thì lo lắng những công việc của Chúa, tìm cách làm đẹp lòng Người; còn kẻ kết hôn thì lo lắng những chuyện đời, làm thế nào để làm đẹp lòng vợ, và như là bị phân tâm” (1 Cr 7,32-34). Để cất mối bận tâm về chính mình, thì có lời khuyên tuân phục, nhờ đó người ta để cho bề trên sắp xếp các hành vi của mình, như thư gửi Hipri (13,17) viết: “Anh em hãy tuân phục các người lãnh đạo của mình, bởi vì họ trông nom anh em như người phải báo cáo”. Bởi vì sự hoàn thiện của con người hệ ở tâm hồn gắn bó với Thiên Chúa, và ba lời khuyên vừa nói nhằm đến mục tiêu ấy, cho nên chúng thuộc về tình trạng hoàn thiện.

Như vậy ba lời khuyên ấy làm cho con người nên hoàn thiện hay sao?

Ba lời khuyên không phải là sự hoàn thiện, nhưng nói được là “hiệu quả và dấu hiệu” của sự hoàn thiện. Thật vậy, một khi linh hồn được tình yêu nồng nhiệt ước ao gắn bó với Thiên Chúa, thì khước từ những gì làm trì trệ bước tiến đến Thiên Chúa: việc quản trị tài sản, sự quyến luyến vợ con, và ưu tư cho bản thân. Tư tưởng này được gặp thấy trong nhiều đoạn văn Tân ước, chẳng hạn như” “Nước trời ví như một thương gia đi tìm ngọc quý; khi tìm được rồi, ông ta trở về, bán hết tài sản và mua nó” (Mt 13,45-46), hoặc lời của thánh Phaolô: “Những gì được coi là lợi lộc đối với tôi, thì vì Đức Kitô, tôi xem nó như thiệt thòi” (Pl 3,7).

Đó là ý nghĩa của ba lời khấn dòng phải không?

Đúng thế, qua việc tuyên khấn ba lời khuyên, người tu sĩ gắn bó chặt chẽ với Thiên Chúa qua việc dâng hiến toàn thân cho Ngài: dâng các của cải bằng lời khấn khó nghèo, dâng những thiện hảo thân xác bằng lời khấn khiết tịnh, dâng ý chí bằng lời khấn tuân phục. Như đã nói trên đây, đó là ba lời khuyên chứ không truyền buộc tất cả mọi Kitô hữu. Điều đáng ngạc nhiên là ở đây thánh Tôma không chỉ giải thích những cách thức thực hành sai lệch ba lời khuyên, mà còn kể ra những ý kiến chống lại ba lời khuyên.

Có những ý kiến nào chống lại lời khuyên khó nghèo?

Thánh Tôma kể ra bảy luận cứ chống lại lời khuyên khó nghèo; đồng thời ngài cũng tìm cách trả lời các vấn nạn ấy.

1/ Thứ nhất. Các thú vật, do bản năng tự nhiên, tìm những gì cần thiết để sinh sống. Những thú vật nào không tìm được điều cần thiết trong hết mọi thời kỳ trong năm, thì tích trữ điều cần thiết trong thời gian có thể kiếm được và bảo tồn chúng, như ta thấy trường hợp các con kiến. Thế nhưng loài người, để bảo vệ đời sống, cần đến nhiều thứ mà mình không thể kiếm được ở mọi lúc. Vì thế, tự nhiên con người phải thu thập và giữ gìn điều cần thiết. Bởi vậy, việc phân phát tất cả mọi điều mình sở hữu là điều trái lẽ tự nhiên.

Thánh Tôma trả lời rằng con người có ước muốn tự nhiên muốn thu gom những điều cần cho cuộc sống, nhưng ước muốn đó không đến nỗi bắt buộc mỗi người đều phải thu gom; có người làm chuyện này, có người làm chuyện khác. Xét vì con người cần không những các của cải vật chất mà còn các của cải tinh thần nữa, cho nên cần có vài người chuyên lo các việc tinh thần để cổ vũ đời sống tinh thần cho những người khác. Thế nhưng ai đã chuyên lo việc tinh thần thì cần được thong dong khỏi những của cải vật chất. Chính Chúa quan phòng đã hướng một vài người vào nhiệm vụ tinh thần như thế.

2/ Thứ hai. Tất cả mọi loài đều ước ao được sống. Thế mà sự sống được duy trì nhờ tài sản vật chất. Vì thế theo luật tự nhiên, mỗi người buộc phải duy trì các tài sản vật chất. Bởi đó, cũng như không ai được phép tự cắt đứt sự sống của mình, thì cũng không được phép tước đoạt điều cần thiết cho sự sống bằng sự khó nghèo tự nguyện.

 Trả lời. Những người từ bỏ tài sản vật chất thì không tước đoạt việc nuôi dưỡng sự sống. Thực vậy, họ vẫn giữ hy vọng được nuôi dưỡng thân xác nhờ lao động, hoặc sự trợ giúp của các tín hữu khác, dưới nhiều hình thức.

3/ Thứ ba. Con người sống trong xã hội, tự nhiên giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết. Thế nhưng kẻ nào đã từ bỏ tất cả mọi sự thì không thể giúp đỡ ai hết. Vì thế người tự nguyện khấn khó nghèo thì đi ngược bản tính tự nhiên và lòng bác ái.

Trả lời. Con người giúp đỡ lẫn nhau trong lãnh vực tinh thần và vật chất. Việc giúp đỡ tha nhân trong lãnh vực tinh thần đâu có thua kém việc giúp đỡ trong lãnh vực vật chất, bởi vì các việc tinh thần thì cao thượng hơn và cần thiết hơn để đạt hạnh phúc. Do đó, kẻ nào vì tự nguyện khấn khó nghèo, không thể giúp đỡ tha nhân trong lãnh vực vật chất, nhưng vẫn có thể giúp đỡ tha nhân trong những điều hữu ích hơn, cho nên không trái nghịch với lòng bác ái.

4/ Thứ bốn. Những vật trên đời này là do Chúa dựng nên, vì thế là điều tốt. Bởi vậy, khước từ hoàn toàn các của cải vật chất do việc khó nghèo tự nguyện là một điều xấu.

Trả lời. Những của cải trên đời là do Chúa dựng nên là điều tốt; nhưng sự khó nghèo có thể là điều tốt hơn nếu giúp con người hướng đến Thiên Chúa là Đấng Tuyệt hảo.

5/ Thứ năm. Cần phải tránh những cơ hội phạm tội. Thế nhưng sự khó nghèo là cơ hội xúi giục phạm tội: vì nghèo túng cho nên sinh trộm cắp, nịnh bợ, phản bội và biết bao tội khác. Vì thế cần phải tránh sự khó nghèo tự nguyện.

Trả lời. Đúng là sự khó nghèo là cơ hội sinh ra nhiều sự dữ. Nhưng của cải cũng dễ trở thành cơ hội sinh ra sự dữ.

6/ Thứ sáu. Nhân đức hệ tại sự quân bình, và nó bị phá hủy bởi hai thái cực đối nghịch. Bởi vậy cần phải tránh một bên là đối nghịch với tính hà tiện, không biết khi nào cần tiêu dùng khi nào không cần tiêu dùng; bên kia là khó nghèo tự nguyện, từ bỏ hết tài sản, bởi thế không còn khả năng giúp đỡ những người túng quẫn.

Trả lời. Nên biết là sự quân bình của nhân đức không dựa theo số lượng những vật sử dụng bên ngoài, nhưng là dựa theo quy luật của lý trí, theo đó cần phải cân nhắc số lượng tiêu dùng cũng như điều kiện của người tiêu dùng, hoàn cảnh không gian và thời gian và những hành vi nhân đức khác. Vì thế, tuy khước từ tất cả mọi sự, nhưng sự khó nghèo tự nguyện không trái nghịch nhân đức, bởi vì nó nhắm đến mục tiêu chính đáng tuy vẫn giữ những điều kiện phải có. Thực vậy, việc khước từ của cải nhằm mục tiêu chính đáng còn ít nguy hiểm đến tính mạng hơn là những người dám đương đầu với cái chết, vì nhân đức can đảm, miễn là tuân hành những điều kiện cần phải có.

7/ Vấn nạn thứ bảy dựa trên lời Chúa, chẳng hạn như trong sách Châm ngôn (30,8-9) có lời nguyện rằng: “Xin Chúa đừng ban cho con sự khó nghèo hay giàu sang, nhưng xin cho con lương thực cần thiết, ngõ hầu khi dư giả con sẽ từ bỏ Chúa, hoặc khi túng cực, con trộm cắp và làm ô danh Chúa”.

Trả lời. Tác giả không nói đến sự khó nghèo tự nguyện nhưng là sự khó nghèo bất đắc dĩ; điều này có thể trở thành cơ hội phạm tội trộm cắp.

Thánh Tôma chỉ đưa những luận chứng bảo vệ sự khó nghèo tự nguyện. Như thế khó nghèo tự nguyện là điều tốt phải không?

Không phải, thánh Tôma còn vạch ra những cách thức sống sự khó nghèo tự nguyện, đồng thời cũng như cảnh báo những cách thức áp dụng lệch lạc.

Những hình thức sống khó nghèo tự nguyện là gì?

Thánh Tôma kể ra 5 cách thức sống khó nghèo tự nguyện, dựa theo kinh nghiệm lịch sử.

1/ Thứ nhất là bán hết tài sản riêng, rồi sống nhờ số tiền thu được. Xem ra đó là nếp sống của các Kitô hữu ở Giêrusalem thời các tông đồ (xc. Cv 4,34-35).

Tuy nhiên, xem ra lối sống này có nhiều bất lợi vì nhiều lý do. (i) Trước hết, không dễ gì những người có nhiều của cải sẽ gia nhập cộng đoàn, bởi vì họ sẽ phải chi tiêu tiền bạc của mình để nuôi dưỡng các thành phần khác, mà đa số là nghèo. (ii) Thứ hai, số tiền thu được có nhiều rủi ro sẽ không bền lâu; hoặc do sự vụng về của người quản lý, hoặc do trộm cắp; như vậy các phần tử sẽ không còn phương tiện sinh sống. (iii) Thứ ba, có những người bó buộc phải thay đổi chỗ ở vì nhiều lý do khác nhau; do đó khó lòng tài trợ cho những người di dân.

2/ Thứ hai là đặt tất cả mọi tài sản làm của chung, rồi phân phát cho mỗi người tùy nhu cầu, giống như nhiều tu viện vẫn thực hành.

Tuy nhiên, cách thức có những bất tiện. Bởi vì bao lâu còn duy trì tài sản thì vẫn còn phải lo lắng làm thế nào cho nó sinh lợi, hoặc phải đề phòng trộm cướp. Ngoài ra việc đặt tài sản làm của chung cũng thường sinh ra nhiều bất hòa giữa các phần tử, vì thế làm ngăn trở việc gắn bó với Thiên Chúa, là mục tiêu của sự khó nghèo tự nguyện.

3/ Thứ ba là sống bằng công việc lao động của mình, theo gương thánh Phaolô đã kể lại trong 2 Tx 3,8-10.

Tuy nhiên, lối sống này không tiện vì nhiều lý do. (i) Một là vì làm việc để kiếm kế sinh nhai thì cũng như trước kia khi còn ở ngoài đời. Như vậy thì đâu có gì khác biệt giữa trước và sau khi khấn khó nghèo tự nguyện. (ii) Sự khó nghèo tự nguyện nhằm giúp con người thanh thoát hơn để đi theo Chúa Kitô, không còn bận tâm lo việc thế sự; vì thế việc lao động xem ra đi ngược với ý định ấy. (iii) Khi khuyến khích các môn đệ tránh những bận tâm lo việc thế sự, Chúa Giêsu trưng ra thí dụ chim trên trời và hoa huệ ngoài đồng (x. Mt 6,26.28). Điều này xem ra trái ngược với việc lao động. (iv) Trong vài trường hợp, việc lao động không đủ sống. Những người đi tìm sự hoàn thiện thường không được đào tạo để lao động; như thế điều kiện sinh sống của các công nhân thì cao hơn những người dâng mình cho Chúa. (v) Để kiếm sống cần mất nhiều thời gian. Nếu những người đã dâng mình cho Chúa mà còn phải lao động thì sẽ không còn nhiều thơi gian dành cho các hoạt động tình. (vi) Đừng nói rằng lao động giúp con người tránh nhàn cư, bởi sự nhàn cư có thể tránh được nhờ làm những công tác khác. (vii) Đừng nói rằng việc lao động chân tay cần thiết để chế ngự các dục vọng xác thịt, bởi vì việc chế ngự này có thể thực hiện bằng nhiều cách khác, tự như ăn chay, canh thức.

4/ Thứ bốn là sống nhờ việc dâng cúng của các nhà hảo tâm, giống như Chúa Giêsu xem ra thực hiện (x. Lc 8,2-3). Nhưng thánh Tôma đã vạch ra 9 điều bất tiện. (i) Một, xem ra phi lý khi chúng ta từ bỏ tài sản của mình để sống dựa trên tài sản người khác. (ii) Xem ra không công bình khi ta nhận lãnh mà không có chi trả lại. Thực ra không phải là bất công khi ta nhận lãnh thù lao đáp lại một công tác thiêng liêng, bởi vì Chúa đã nói “người thợ đáng được nuôi ăn” (Mt 10,10). (iii) Các của dâng cúng làm thiệt hại cho người khác, tức là những người nghèo không có phương tiện sinh kế nên cần được trợ giúp; vì thế người tự nguyện sống nghèo lại sống nhờ vả người khác là lấy mất sự trợ giúp lẽ ra nên dành cho người khác. (iv) Sự trọn lành đòi hỏi phải sự thanh thoát tinh thần; sự thanh thoát này bị ngăn cản bởi những việc dâng cúng, bởi vì không dám làm phiền lòng những người dâng cúng. (v) Việc dâng cúng tùy thuộc vào lòng hảo tâm của ân nhân; vì thế không hữu hiệu để giúp cho việc cấp dưỡng những người tự nguyện khó nghèo. (vi) Những người muốn được giúp đỡ thì phải trình bày các nhu cầu của mình; điều này làm hạ giá những người xin bố thí, khiến cho họ bị khinh thường bởi những người cho tiền, đang khi lẽ ra những kẻ đi tìm sự trọn lành đáng được kính trọng và yêu mến. (vii) Những người tìm kiếm sự trọn lành cần phải tránh không chỉ sự xấu mà thôi, nhưng cả những gì có vẻ xấu. Thế nhưng việc hành khất mang hình thức sự xấu, xét vì có những người hành khất để làm giàu. Vì thế ai muốn nên trọn lành thì cần tránh hành khất. (viii) Lời khuyên khó nghèo được đề ra nhằm giúp linh hồn được thanh thoát để lo việc Chúa; nhưng đời sống hành khất bao hàm sự lo lắng đến của cải người khác hơn là sử dụng tài sản của mình, vì thế không thích hợp với nếp sống trọn lành. (ix) Có người muốn ca ngợi sự hành khất vì có cơ hội sống khiêm nhường; thế nhưng đức khiêm nhường được ca ngợi xét vì khinh chê những gì cao trọng của thế gian, như là tiền tài, địa vị, vinh quang, chứ không bởi vì khinh chê nhân đức. Vậy mà việc hành khất làm phương hại đến nhân đức, bởi vì nhân đức hệ tại cho đi hơn là nhận lãnh (xc. Cv 20,35), đó là chưa kể những khía cạnh tiêu cực khác của việc hành khất đã nêu trên đây.

5/ Thứ năm là sống không lo lắng gì, không khất thực, không lao động, không bảo tồn gì hết, nhưng hoàn toàn trông chờ vào Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã dạy: “Các người đừng lo gì về cơm ăn áo mặc ... Đừng lo gì cho ngày mai” (Mt 6,25.34). Nhưng thánh Tôma cho rằng sống như vậy là phi lý, vì ba lý do: (i) Thật là điên rồ nếu muốn đạt mục tiêu mà không dùng phương tiện; thế nhưng muốn ăn thì phải kiếm lương thực; ta không thể sống nếu thiếu miếng ăn; do đó ta phải kiếm lương thực để ăn và sống. (ii) Việc tránh lo lắng chuyện thế trần nhằm tránh những ngăn trở sự chiêm ngắm những điều vĩnh cửu; thế nhưng bao lâu còn sống trên đời, con người phải làm nhiều việc làm gián đoạn sự chiêm niệm, tựa như ăn uống, ngủ nghỉ. Do đó, ta không thể bỏ qua những gì cần thiết cho đời sống. (iii) Thật là phi lý khi muốn tránh tất cả mọi hành động để khỏi bị ngăn cản việc chiêm niệm, bởi vì như vậy là sẽ không đi lại, không mở miệng để ăn, không chạy trốn trước một hiểm nguy.

Cho tới nay, thánh Tôma đã phi bác những ý tưởng sai lạc liên quan đến sự khó nghèo tự nguyện; kế đó ngài vạch ra những khiếm khuyết trong cách thức thực hành khó nghèo tự nguyện. Ngài có giải thích thế nào là sống khó nghèo tự nguyện cách chân chính không?

Đối với thánh Tôma, sự khó nghèo không phải là một giá trị tuyệt đối, theo nghĩa ai khó nghèo thì tất nhiên là hoàn thiện, và ai có nhiều tiền thì đương nhiên là xấu. Có thứ nghèo “tốt” và có thứ nghèo “xấu”. Tác giả bàn về sự khó nghèo bằng cách đối chiếu với sự giàu sang.

Nghĩa là có thứ giàu “tốt” và có thứ giàu”xấu” phải không?

Đúng thế. Của cải là điều cần thiết cho nhân đức. Nhờ của cải ta mới nuôi sống thân xác của mình và giúp đỡ người khác. Nói khác đi, của cải chỉ là phương tiện; nó tốt hay xấu là tùy theo cứu cánh mà ta nhắm đến. Nếu của cải nhắm đến mục đích tốt, nghĩa là nhằm thực hành nhân đức, thì nó tốt; còn nếu làm ngăn trở việc thực hành nhân đức thì nó trở thành xấu. Việc thực hành nhân đức cũng cần được xét tùy theo nếp sống của mỗi người, chẳng hạn đối với người sống đời chiêm niệm thì họ chỉ cần đủ của cải để nuôi thân, nhưng đối với người sống đời hoạt động thì họ cần nhiều của cải hơn để giúp đỡ tha nhân qua các công tác xã hội, tựa như giáo dục, bệnh viện. Đối lại, sự khó nghèo cũng có thể là “tốt” hoặc là “xấu”.

Khi nào sự khó nghèo là tốt?

Sự khó nghèo là tốt khi nó giải thoát con người khỏi những nết xấu mà những người có của cải thường mắc phải. Tuy nhiên cần nói rõ thêm là sự khó nghèo khi giải thoát con người khỏi những ưu tư phát sinh từ của cải có thể là hữu ích đối với những người quan tâm đến những chuyện tốt hơn, nhưng có thể có hại cho những ai thoát được lo lắng về tiền của nhưng lại rơi vào những điều tệ hơn, chẳng hạn như nhàn rỗi, ăn không ngồi rồi.

Khi nào sự khó nghèo là xấu?

Nếu xét tự nó, sự khó nghèo làm mất những điều tốt phát sinh từ của cải, đó là khả năng giúp đỡ tha nhân và nuôi dưỡng bản thân, là một điều xấu. Tuy nhiên, sự thiệt thòi trong việc giúp đỡ tha nhân có thể được bù đắp bởi một điều thiện tốt hơn, đó là khi không còn bị ràng buộc bởi của cải nữa, con người sẽ được thanh thoát để lo việc tinh thần. Còn việc nuôi dưỡng bản thân thì không thể nào được bù trừ bởi một điều thiện cao hơn. Tóm lại, sự khó nghèo là tốt trong tầm mức giải thoát con người khỏi những lo lắng thế trần ngõ hầu để tâm đến những việc của Thiên Chúa. Sự khó nghèo được đánh giá không dựa theo mức độ khắc khổ, nhưng xét theo sự giảm lo lắng việc thế trần để chuyên lo việc Chúa nhiều hơn. Tóm lại, sự giàu sang hay khó nghèo tự nó có thể là tốt hoặc xấu; giá trị của chúng cần được nhìn trong tương quan với việc thực hành nhân đức.

Đi vào cụ thể, trên đây, thánh Tôma kể ra năm cách thức thực hành khó nghèo tự nguyện, nhưng cách nào cũng có những bất tiện của nó. Như vậy thì làm sao có thể thực hành khó nghèo được?

Chúng ta hãy phân tích từng hình thức.

Cách thứ nhất là các tín hữu bán hết tài sản; tiền thu được thì đặt làm của chung. Tiếc rằng hình thức này không kéo dài lâu, bởi vì cộng đoàn Giêrusalem sớm bị phân tán, do sự bách hại của người Do thái cũng như sự tàn phá thành phố, khiến cộng đoàn bị phân tán.

Cách thứ hai là các phần tử sống nhờ vào hoa lợi thu được từ các tài sản đặt làm của chung. Chúng ta đã nêu lên hai điều bất tiện, nhưng không phải là không thể vượt qua. Sự quản trị được trao cho một hay vài người, sẽ giúp những người còn lại được thong dong hơn để lo việc thiêng liêng. Những người lãnh trách nhiệm quản lý cũng không mất sự trọn lành, bởi vì tuy họ thiếu sự thanh thản, nhưng bù lại họ thu được sự trọn lành bằng công tác bác ái. Mặt khác, cách thức sống khó nghèo bằng cách để tài sản làm của chung không nhất thiết gây ra sự tranh chấp, bởi vì các phần tử chỉ lo điều cần thiết tối thiểu, và bởi vì những người quản lý phải là những kẻ trung tín. Chúng ta không thể lên án lối sống này bởi vì có những người lạm dụng, nhưng những người xấu thì sử dụng xấu những điều tốt, cũng như những người tốt sử dụng tốt kể cả những điều xấu.

Cách thứ ba là sống nhờ lao động. Hình thức này có những bất tiện nhưng không phải là không thể vượt qua. (i) Không phải là điều nghịch lý khi đã từ bỏ tài sản rồi mà còn lấy lại nhờ lao động; bởi vì việc sở hữu tài sản chiếm đoạt con tim, còn người lao động thì chỉ tìm cách làm ăn để nuôi sống hằng ngày. (ii) Lao động để đủ sống thì không chiếm nhiều thời giờ và lo lắng như là những kẻ thu tích tài sản, đòi hỏi nhiều thời giờ và lo lắng. (iii) Tin Mừng không ngăn cấm làm việc, nhưng sự lo lắng cho điều cần thiết cho cuộc sống. Chúa Giêsu không nói “đừng làm việc” nhưng là “đừng quá lo lắng”. Chúa đi từ những thí dụ đơn giản về sự quan phòng của Chúa Cha cho chim trời và hoa huệ, vì chúng không biết làm việc để kiếm sống; nhưng loài người thì có khả năng làm việc để kiếm kế sinh nhai. Chúa không cấm lao động mà chỉ khuyên ta đừng quá xao xuyến về của ăn áo mặc. (iv) Cũng vậy, đừng lên án lao động với lý do là không đủ để sống. Có ít trường hợp mà người ta không thể làm đủ sống, hoặc do bệnh tật hoặc những lý do tương tự. Tuy nhiên từ một vài trường hợp ta không thể tẩy chay tất cả một phương pháp. Không có cái gì trên đời này là bảo đảm hoàn toàn cho sự sống. Người giàu cũng có thể mất của vì bị trộm cướp; người lao công cũng có thể bị bệnh tật; để trợ giúp những rủi ro đó, cần có sự trợ giúp của cộng đồng và của tình liên đới tự nhiên hoặc lòng bác ái Kitô giáo. Thánh Phaolô, tuy nói rằng “ai không làm thì đừng ăn”, nhưng khi nghĩ đến những người vất vả làm lụng thì thêm rằng: “Anh em đừng nản chí khi làm việc thiện” (2 Tx 3,10.13). (v) Người nào chỉ cần làm việc đủ sống thì không mất nhiều thời giờ lao động; vì thế họ có đủ thời giờ để cầu nguyện, học hỏi lời Chúa, chúc tụng Chúa. (vi) Lao động cũng có thể dùng để cất đi tính nhàn cư và những thèm muốn xác thịt; tuy nhiên các tật xấu này có thể được chế ngự bằng những phương thế khác hữu hiệu hơn.

Cách thứ bốn để sống khó nghèo tự nguyện là sống nhờ việc dâng cúng của người khác. Hình thức này có nhiều bất lợi như đã nêu lên, và thánh Tôma tìm cách trả lời như sau. (i) Không phải là nghịch lý khi một người đã từ bỏ tài sản vì một mục tiêu nhắm tới ích lợi của người khác mà lại được họ giúp đỡ. Thật vậy, những người tự nguyện sống khó nghèo để theo Chúa Kitô đều phục vụ ích chung, chẳng hạn qua việc dạy dỗ dân chúng, cầu nguyện cho họ, làm gương sáng cho họ. Cho nên chuyện những người tình nguyện khó nghèo lại được người khác nâng đỡ không phải là nghịch lý. (ii) Không có gì xấu hổ khi nhận của bố thí từ người khác, bởi vì người nhận bố thí có thể bù đắp cho các ân nhân bằng những ơn cao trọng hơn, đó là các ân huệ thiêng liêng. (iii) Những người tự nguyện khó nghèo, khi bằng gương sáng của mình mà thúc đẩy người khác tập luyện nhân đức, sẽ giúp họ bớt bám víu vào tài sản, từ đó họ sẽ dùng của cải để làm việc từ thiện, và như thế là có lợi cho mình chứ không phải là thiệt thòi. (iv) Người nhận của bố thí không mất đi sự tự do tinh thần, bởi vì ta chỉ mất tự do bởi những điều chiếm đoạt linh hồn chứ không phải bởi những tài sản được biếu tặng. (v) Người nào sống nhờ vào lòng hảo tâm của ân nhân thì lệ thuộc vào ý muốn của họ; tuy nhiên sự lệ thuộc này không hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của một người nào nhất định, nhưng là của nhiều người; và hy vọng rằng giữa lòng Dân Chúa không thiếu những tâm hồn quảng đại giúp đỡ những người mà họ quý mến vì đi theo đường nhân đức. (vi) Không phải là phi lý khi những người tự nguyện khó nghèo trình bày các nhu cầu của mình để xin giúp đỡ. Thánh Phaolô cũng quyên tiền để giúp các tín hữu ở Giêrusalem. Sự khất thực không làm con người trở nên hèn hạ khi được thi hành đúng cách, xét đến điều kiện của người mà ta xin cùng những hoàn cảnh không gian và thời gian. Người xin bố thí cần tuân thủ các điều đó. (vii) Xét những điều vừa nói, sự khất thực không có dáng vẻ xấu xa; nó chỉ xấu nếu thực hành không đúng cách, thiếu tế nhị, hoặc để tích trữ điều dư thừa. (viii) Thánh Tôma không trả lời nhận xét này, nhưng có thể tìm thấy giải đáp trong những điều đã nói trên đây. (ix) Tự nguyện chấp nhận điều đáng khinh là thực hành khiêm nhường, nhưng chỉ trong tầm mức nào đó. Thực vậy, đức khiêm nhường đòi hỏi sự đắn đo, cũng giống như các nhân đức khác; thi hành những việc thấp hèn là việc nhân đức nếu động lực của nó là vì đức bác ái hoặc để chống lại tật kiêu ngạo.

Cánh thứ năm thật hoàn toàn phi lý. Đó là sự sai lầm của những người nghĩ rằng Chúa ngăn cấm tất cả mọi thứ lo lắng. Trên thực tế, bất cứ hoạt động nào cũng kèm theo ưu tư lo lắng; không thể nào viện cớ tránh lo lắng để không làm gì hết, bởi vì đó là chuyện vô lý và không thể chấp nhận được. Chúa truyền mỗi vật phải hoạt động theo bản tính của mình. Thế nhưng con người là một hữu thể gồm bởi tinh thần và thể xác. Vì thế theo lệnh của Chúa, con người phải thực hành các việc thể xác đang khi vẫn hướng đến những thực tại tinh thần. Nếu con người bỏ qua việc làm thân xác đến nỗi không bảo tồn được nó thì không còn là nhân đức nữa; và người há miệng chờ sung thì không nhất thiết là kẻ tín thác vào Thiên Chúa mà là kẻ thử thách Ngài. Khi Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng lo lắng thì Người muốn nói rằng mình hãy làm việc trong khả năng của mình, chứ đừng quá bận tâm đến kết quả, bởi vì điều này không tùy thuộc vào chúng ta, nhưng tùy thuộc vào chương trình của Chúa. Một cách tương tự như vậy, chúng ta đừng quá ưu tư về tương lai bởi vì tương lai không nằm trong tay chúng ta; dù vậy, Người không cấm chúng ta bảo tồn những gì cần thiết cho tương lai trong niềm hy vọng vào sự giúp đỡ của Chúa.

Tóm lại, có nhiều cách thức để sống khó nghèo tự nguyện. Cách thức được xem là tốt nhất khi nó giải thoát ra khỏi những lo lắng công việc trần thế để gắn bó hơn với Chúa. Việc diễn tả lý tưởng ấy ra thực hành tùy thuộc vào nhiều hoàn cảnh, mà ta phải dùng lý trí và đức mến để phân định.

Sau khi đã dừng lại khá lâu để bàn về việc khó nghèo tự nguyện, thánh Tôma chuyển sang lời khuyên khiết tịnh. Tác giả cũng bắt đầu với việc kể ra các luận cứ chống lại lời khuyên này.

Có bao nhiêu luận cứ chống đối lời khấn khiết tinh?

Thánh Tôma kể ra 6 luận cứ, đồng thời ngài cũng tìm cách trả lời.

1/ Thứ nhất. Việc kết hợp người nam với người nữ nhắm tới thiện ích của chủng loại. Thế nhưng, theo ông Aristote, thiện ích của chủng loại thì thánh thiêng hơn thiện ích của cá nhân. Vì vậy hoàn toàn kiêng cữ hành vi duy trì chủng loại là tội nặng hơn kiêng các hành vi duy trì sự sống cá nhân, tựa như ăn uống.

Trả lời. Cần phân biệt giữa sự cần thiết cá nhân và sự cần thiết xã hội. Trong trường hợp cần thiết cá nhân, thì cần đáp ứng bằng việc ăn uống, vân vân. Trong trường hợp cần thiết xã hội, không đương nhiên là tất cả mọi phần tử đều phải đáp ứng. Trong xã hội loài người có rất nhiều sự cần thiết mà riêng một cá nhân không thể lo liệu hết, vì vậy cần nhiều cá nhân có những phận vụ khác nhau, tựa như các chi thể trong một thân thể. Xét vì sự sinh sản không được xếp vào các điều cần thiết cho cá nhân nhưng là cho chủng loại, cho nên không cần tất cả mọi cá nhân phải thực hiện việc sinh sản; một vài người có thể kiêng tránh việc sinh sản để chuyên lo những phận vụ khác, tựa như nghiên cứu khoa học, bảo vệ đất nước, chiêm niệm.

2/ Thứ hai. Đấng Tạo hóa đã xếp đặt trong cơ thể con người những cơ quan sinh sản cũng như bản năng phái tính. Vì thế người nào kiêng cữ việc sinh sản là trái với luật Chúa.

Trả lời. Đấng Tạo hóa đã ban cho con người những khả năng cần thiết cho chủng loại, nhưng không đòi hỏi mỗi người phải tận dụng các khả năng ấy. Thật vậy, con người có nhiều khả năng nhưng không phải tất cả mọi người đều làm thợ nề, thợ mộc, giáo sư, bác sĩ, vân vân. Một cách tương tự như vậy, tuy Thiên Chúa đã ban cho con người khả năng sinh sản, nhưng không nhất thiết là mỗi người đều phải thực hành việc sinh sản.

3/ Thứ ba. Nếu đức tiết dục là điều tốt, thì ước gì nhiều người hay mọi người đều tiết dục. Nhưng nếu như vậy thì dòng giống loài người sẽ bị tiêu diệt. Vì thế việc tiết dục không phải là điều tốt.

Trả lời. Trong thân thể con người, tuy rằng mắt thì trọng hơn chân, tuy nhiên con người sẽ thiếu hoàn thiện nếu không có cả mắt và chân, chẳng hạn như có bốn mắt mà không có chân. Cũng vậy dòng giống loài người sẽ không bền vững nếu không có những người lo việc sinh sản, và người khác thì kiêng cữ để chuyên lo việc chiêm niệm.

4/ Thứ bốn. Nhân đức khiết tịnh hệ tại sự quân bình. Vì thế kẻ lăng loàn không phải là người đức hạnh; nhưng kẻ kiêng cữ hoàn toàn hành vi tính dục cũng không phải là đức hạnh.

Trả lời. Sự quân bình không có nghĩa là tầm thường. Sự quân bình cần được xét theo quy tắc lý trí. Nếu người nào hoàn toàn kiêng cữ các khoái lạc xác thịt theo trật tự lý trí thì được coi là đức hạnh, bởi vì vượt trên mức độ tầm thường của con người: ra như họ giống các thiên thần (x. Mt 22,30).

5/ Thứ năm. Con người không thể nào không có những ham muốn khoái lạc xác thịt. Nếu chống trả lại những ham muốn ấy, con người phải chiến đấu, và vì thế đâm ra buồn phiền lo lắng. Tâm trạng bất an như thế trái nghịch với sự hoàn thiện. Vì thế sự tiết dục trái nghịch sự trọn lành.

Trả lời. Những người kết hôn phải thường xuyên lo lắng cho những người trong gia đình (vợ chồng con cái) cũng như công ăn việc làm để nuôi sống gia đình. Còn những xao xuyến nảy sinh do việc chiến đấu chống lại những ước muốn khoái lạc thì thường là ngắn ngủi; và những ước muốn này sẽ giảm bớt nơi người nào không đồng ý, đang khi nó tăng thêm nơi người nào thực hành tính dục. Ngoài ra, sự ham muốn cũng bị suy giảm nhờ những việc chay tịnh và khổ chế mà người tiết độ áp dụng; đối lại lòng ham muốn tăng thêm nơi người thực hành. Bởi thế người nào muốn sống đời chiêm niệm thì việc tiết chế những khoái lạc là điều hữu ích. Dù sao, tuy rằng sự tiết dục tốt hơn là kết hôn, nhưng đôi khi đối với một vài người thì kết hôn là điều tốt hơn. Chúa Giêsu cũng đã nói rằng không phải tất cả mọi người đều có thể “hiểu được” sự tiết dục, nhưng chỉ những ai được ban ơn thì mới hiểu (x. Mt 19,11-12).

6/ Thứ sáu. Chúa đã truyền cho nguyên tổ loài người rằng “Hãy sinh sản cho đầy trái đất” (St 1,28). Những điều ấy không được rút lại trong Tân ước, mà còn được xác định lại (x. Mt 19,6). Vì thế những ai tiết dục hoàn toàn là làm trái lệnh Thiên Chúa.

Trả lời. Mệnh lệnh Chúa ban cho nguyên tổ nói lên khuynh hướng truyền sinh để bảo tồn nhân loại nhờ việc sinh sản. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều buộc phải thi hành, như đã nói trên đây. Cũng nên biết là có những trường hợp mà việc khước từ hôn nhân không còn thích hợp, chẳng hạn vào hồi nguyên thủy khi nhân loại còn ít người, hoặc trong trường hợp số dân tín đồ còn thấp và cần phải tăng gia, như trường hợp Israel trong Cựu ước. Còn trong Tân ước, con số tín hữu tăng gia nhờ việc sinh sản thiêng liêng là bí tích Rửa tội. Dù sao, không nên coi việc tiết dục với hôn nhân đều ngang nhau. Sự trinh khiết vì Nước Trời là một ân huệ cao quý được ban cho một ít người, bởi vì họ được mời gọi chiêm ngưỡng các thực tại thần linh, ra như ngang với các thiên thần.

Việc tự mình ràng buộc bằng lời khấn có hợp lý không? Hành vi nhân đức đáng khen khi được thi hành cách tự do; nếu thi hành do một sự cưỡng bách thì đâu còn công trạng gì nữa?

Có sự hiểu lầm trong vấn đề này, liên quan đến tự do. Tự do thì trái nghịch với cưỡng bách, nghĩa là ép buộc. Loài vật hoạt động theo bản năng chứ không có lựa chọn. Con người hoạt động do quyết định tự do. Tuy nhiên, con người có thể hoạt động do sự cần thiết (hoặc đương nhiên) mà không mất tự do, và do đó không mất giá trị nhân đức. Thánh Tôma phân biệt ba thứ cần thiết.

- Thứ nhất là cần thiết do cưỡng bách. Sự cưỡng bách làm mất tính cách tự nguyện; như vậy thì đúng là nó làm giảm giá trị nhân đức.

- Thứ hai là cần thiết do một khuynh hướng nội tại. Sự cần thiết này không làm suy giảm giá trị nhân đức, trái lại còn hướng ý chí hướng đến sự thiện cách quyết liệt hơn. Ta có thể nói rằng các thánh nhân trên trời yêu mến Chúa theo cách này; nhưng không thể nói là họ mất tự do.

- Thứ ba là cần thiết phát sinh từ mục đích. Ai đã muốn mục đích thì cần phải dùng phương tiện để đạt tới đó. Giá trị của hành vi tùy thuộc vào mục đích nhắm tới. Đây là trường hợp của những người làm một hành vi do lời khấn. Thí dụ ai giữ chay nhằm thực hành đức tiết chế thì đã là tốt rồi; nhưng nếu họ giữ chay vì tuân giữ lời khấn thì chẳng những không làm giảm giá trị của nó mà còn tăng thêm nữa, bởi vì họ thi hành do lòng mến Chúa thúc đẩy. Qua lời khấn, con người đã dâng hiến toàn thân cho Thiên Chúa; vì thế mọi việc làm của họ, ngoài giá trị nội tại của công tác, còn thêm công phúc do lòng mến Chúa: đó là hành động của người yêu dành cho người mình yêu.



[1] Thánh Tôma bàn về các lời khuyên ở CG III,130-138.

Chia sẻ