*****
Cho đến nay, thánh Tôma đã bàn đến Thiên Chúa là nguyên nhân tác thành và cứu cánh của muôn vật. Thiên Chúa là Đấng dựng nên muôn loài, và hướng tất cả về sự Toàn hảo tuyệt đối là chính Ngài. Tiếp nối đề tài ấy, trong mục này, tác giả muốn cho thấy rằng Thiên Chúa điều khiển vạn vật đến mục đích của chúng. Việc điều khiển này được gọi là quản trị hay quan phòng (CG III, 64-110). Trước hết, tác giả bàn đến sự quan phòng vạn vật nói chung; sau đó, sự quan phòng dành cho con người nói riêng, bởi vì con người được ban lý trí và tự do để hành động, chứ không hoàn toàn thụ động. Sự hòa hợp giữa kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa với tự do của con người là một chuyện không dễ hiểu. Trước hết, chúng ta bàn đến sự quan phòng nói chung (CG III,64-110).
Trong ngôn ngữ Hán-Việt, “quan” là nhìn xem kỹ lưỡng (quan sát); “phòng” là bờ đê ngăn cản (phòng chống, phòng ngừa). Quan phòng dịch từ tiếng Latin providentia, bởi động từ pro-vedere có nghĩa là lo liệu, xếp đặt (cũng gần với pre-vedere là tiên liệu). Danh từ này cũng có khi dịch là an bài. Sự quan phòng muốn nói lên rằng Thiên Chúa quản trị và điều khiển muôn vật theo một kế hoạch, hướng tất cả về một mục đích chung là chính Ngài. Sự quan phòng bao trùm tất cả mọi sự, loài vô tri cũng như loài có trí tuệ. Sự quan phòng vạn vật giả thiết là chúng đã hiện hữu nhờ quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa, đồng thời chúng cũng được bảo tồn trong sự hiện hữu, bởi vì nếu một vật nào không hiện hữu (không có hoặc không còn nữa) thì đâu cần phải nói đến việc quản trị làm gì.
Có chứ. Thiên Chúa ban cho mọi loài được hiện hữu, và chúng ta gọi là ‘Nguyên nhân đệ Nhất”. Thiên Chúa cũng ban cho các thụ tạo được tham dự vào công trình sáng tạo của Ngài, mà chúng ta gọi là “nguyên nhân đệ nhị”, chẳng hạn như việc sinh sản nơi các động vật: chúng cũng sinh con đẻ cái, nghĩa là ban cho con cái được hiện hữu do bởi quyền năng của Đấng Tạo hóa. Tuy nhiên ta đừng lầm tưởng rằng Chúa giao cho mỗi người mấy nén bạc, rồi Ngài để họ tự sức mình mà kinh doanh. Không phải như thế, Ngài vẫn tiếp tục tác động trong mỗi hành động của thụ tạo. Do đó mỗi hành vi đều có hai nguyên nhân: nguyên nhân đệ nhất là Thiên Chúa; nguyên nhân đệ nhị là thụ tạo. Chính Thiên Chúa ban sự hiện hữu cho muôn vật, nếu Ngài rút lại sự hiện hữu thì muôn vật trở về hư không. Như vậy, ta có thể mở rộng câu nói của Chúa Giêsu đến tất cả mọi hành động: “Không có Thầy, các con không thể làm gì được hết” (Ga 15,5).
Không phải là Chúa cộng tác với ta cho bằng ta cộng tác với Chúa. Thí dụ tôi cầm dao giết người: ai cho tôi sức lực để cầm dao? Nhưng tôi có thể cầm dao để thái thịt, để chặt cây, hoặc để giết người: đó là sự lựa chọn của tôi, lắm khi đi ngược lại với ý Chúa. Tuy vậy, chúng ta đừng bắt Chúa phải giữ tay ta lại khi biết ta sắp giết người. Ngài có thể làm được, nhưng như vậy thì còn gì là tự do của con người nữa?
Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta gặp thấy những đoạn văn nói rằng Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, chẳng hạn như Thánh vịnh 138: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả… Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài. Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện, đến ở nơi chân trời góc biển phương tây, tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn, cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.” Tuy nhiên ta đừng nên hiểu sự hiện diện của Thiên Chúa theo kiểu giống như một nhân vật hữu hình. Thánh Grêgoriô Cả nói đến ba thể thức hiện diện của Thiên Chúa. Một là do sự hiện hữu (per essentiam), bởi vì Thiên Chúa là căn nguyên hiện hữu của mọi vật. Hai là do quyền năng (per potentiam), bởi vì muôn vật tùy thuộc vào quyền năng của Ngài. Ba là do hiểu biết (per scientiam), bởi vì Ngài trông thấy tất cả.
Đây là sự khác biệt lớn giữa Thiên Chúa và con người. Trong thế giới loài người, không thể nào hai tác nhân đồng thời cùng làm một công việc: người này làm thì người kia nghỉ; hay người này ra lệnh rồi người kia tuân hành. Nhưng đối với Thiên Chúa thì khác. Theo thánh Tôma, sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ khi Ngài không độc quyền làm tất cả mọi sự, nhưng còn để cho các thụ tạo được thông dự vào quyền năng của Ngài. Đây không phải là sự hợp tác giữa hai tác nhân ngang hàng với nhau, nhưng là giữa nguyên nhân đệ nhất (Đấng Tạo hóa) và nguyên nhân đệ nhị (thụ tạo). Chúng ta hãy lấy một thí dụ cho dễ hiểu. Nếu có hai bác thợ mộc cùng làm một cái bàn, thì họ sẽ phân công, mỗi người làm một phần: chẳng hạn người thì xẻ gỗ, người thì bào nhẵn tấm gỗ, người thì đo đạc kích thước, người thì đóng đinh. Thế nhưng tương quan giữa Thiên Chúa thì không phải song hành, nhưng Thiên Chúa là nguyên nhân đệ nhất còn thụ tạo là nguyên nhân đệ nhị. Sự khác biệt nằm ở chỗ trong tương quan song hành, mỗi người chỉ làm một nửa công việc; còn trong trật tự đang bàn thì nói được là tất cả là của Chúa và tất cả là của ta. Công việc là do tay ta làm ra, nhưng nhờ sức mạnh mà Chúa ban cho ta.
Chắc chắn rồi: Chúa không thể nào là đồng lõa trong việc xấu. Thế thì điều xấu ở đâu ra? Thánh Tôma lập luận như thế này. Sự quan phòng của Thiên Chúa không hoàn toàn loại trừ sự xấu hoặc khiếm khuyết trong các thụ tạo. Thiên Chúa là Đấng quản trị tất cả mọi vật, nhưng Ngài không loại trừ hoạt động của các nguyên nhân đệ nhị, hay nói đúng hơn, Ngài thường dùng đến các nguyên nhân đệ nhị. Thế nhưng, kết quả của công việc có thể mang khuyết điểm; điều này xảy ra không phải tại nguyên nhân đệ nhất nhưng do một khiếm khuyết nơi nguyên nhân đệ nhị. Thí dụ một bác thợ đóng giày rất tài giỏi nhưng có thể làm ra một chiếc giày không hoàn hảo. Điều này không phải tại người thợ bất tài, nhưng tại dụng cụ có khuyết điểm.
Đúng rồi. Ta nên phân biệt: trong mọi hành động của ta, Chúa ban sức mạnh, vì thế Ngài là nguyên nhân; còn sự thiếu sót là do chúng ta. Chúng ta có thể lấy một thí dụ khác để minh họa. Khi một người đi khập khiễng, thì có thể nói: Chúa ban sức cho anh đi, nhưng đi khập khiễn là do tật của cái chân. Dù sao, khi nói đến sự xấu (hay sự dữ) trong việc quan phòng, chúng ta nên mở rộng tầm nhìn đến toàn thể chương trình quản trị của Thiên Chúa. Thế nào là thiếu sót, thế nào là xấu? Thần học phân biệt nhiều khía cạnh: sự dữ vật lý và sự dữ luân lý. Sự dữ vật lý là thiếu thốn cái gì cần thiết để được toàn vẹn (chẳng hạn què quặt, bệnh tật, thiên tai); sự dữ “luân lý” là tội lỗi. Nguồn gốc của sự dữ luân lý là sự tự do của con người. Thiên Chúa không thể nào yêu thích tội lỗi, dù trực tiếp hay gián tiếp, bởi vì tội lỗi chống lại Thiên Chúa. Tuy vậy, Thiên Chúa cho phép tội lỗi xảy ra, không phải vì Ngài không ngăn cản được, nhưng bởi vì Ngài nhắm đến một kế hoạch cao hơn, chẳng hạn như để bày tỏ lòng thương xót các tội nhân, hay để người lành tập luyện nhân đức khiêm nhường nhẫn nhục. Thiên Chúa cũng không ưa thích sự dữ vật lý cách trực tiếp, nhưng Ngài cho phép nó xảy ra như là phương tiện để đạt một cứu cánh cao cấp hơn. Dù sao, nên lưu ý là chúng ta đang bàn đến sự dữ xét như là thiếu sót điều gì cần thiết (thí dụ như người câm vì không nói được), nhưng không nói đến sự thiếu sót không thuộc về bản tính (chẳng hạn con chim không nói chuyện được, hoặc con người không biết bay). Trong chương trình quan phòng vũ trụ, Thiên Chúa xếp đặt các vật hoàn hảo theo nhiều cấp bậc cũng như trong sự đa dạng. Nhìn tổng thể, phải nói rằng “tất cả đều tốt đẹp” (St 1,31).
Tại vì Thiên Chúa muốn cho con người được thông dự vào ưu phẩm của mình. Ngài muốn dựng nên con người có tự do, để cùng cộng tác với mình trong việc quản trị vũ trụ. Chúng ta hơi bi quan, bởi vì chúng ta thường móc nối ý chí tự do với việc phạm tội. Nhưng chúng ta hãy nghĩ đến mặt phải của nó. Nhờ có trí tuệ và tự do, con người biểu lộ đặc tính làm chủ chính mình. Con người cần có tự do thì mới thực hiện những hành vi nhân đức và lập công trạng. Cách riêng, nhờ có tự do, con người có khả năng chọn lựa việc yêu mến và kết hợp với Chúa.
Thánh Tôma trả lời rằng chương trình quan phòng bao gồm không chỉ những gì khải quát mà cả những chi tiết nữa. Nếu Thiên Chúa không quan phòng tất cả mọi sự, dù tất yếu hay tình cờ, dù lớn dù bé, thì hoặc vì Ngài không biết, hoặc vì không có khả năng, hoặc vì không muốn. Tuy nhiên tất cả những điều ấy đều ngược với bản tính của Ngài. Thật vậy, Ngài biết hết tất cả mọi sự hiện hữu, vì chính Ngài đã ban sự hiện hữu cho chúng. Ngài chăm sóc hết mọi sự bởi vì Ngài ban quyền năng hoạt động cho tất cả mọi vật. Ngài muốn quản trị mọi loài đã dựng nên bởi vì Ngài điều hành tất cả về mục đích của chúng.
Chúng ta phân biệt hai chặng: hoạch định kế hoạch và chấp hành. Trong việc hoạch định, Thiên Chúa đã biết tất cả; nhưng trong việc chấp hành, Ngài để cho các thụ tạo cũng được tham gia, Đó là điều mà chúng ta đã nói trên đây: Thiên Chúa là nguyên nhân đệ nhất, loài thụ tạo là nguyên nhân đệ nhị. Các nguyên nhân đệ nhị cũng được chia sẻ quyền quản trị của Thiên Chúa. Dù sao ta cũng nên phân biệt ít là hai thứ nguyên nhân đệ nhị.
Trong hàng ngũ thụ tạo, đừng kể các thiên thần trên trời, chúng ta nhận thấy rằng con người là một loài có trí tuệ, vượt trên các loài khác. Các loài không có trí tuệ cũng được huy động làm nguyên nhân đệ nhị đấy chứ chẳng hạn trong việc truyền sinh. Còn loài người có trí tuệ thì được ủy thác không chỉ điều khiển các hành vi của bản thân mà còn được trao vai trò quản trị vũ trụ, như ta đọc thấy trong sách Sáng thế 1,28. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng con người được ký thác quản trị vũ trụ, nghĩa là quản lý theo ý định của ông chủ, chứ không trở thành chủ nhân. Con người phải bảo vệ môi trường, chứ không được phá hoại nó, hoặc khai thác thiên nhiên một cách vô độ.
Trong tiếng Việt, “thiên thần” có nghĩa là các thần trên trời, đối lại với địa thần hoặc thổ thần ở dưới đất, đó là chưa kể các quỷ thần. Nhưng trong Kinh Thánh bằng tiếng Hy-lạp và Latinh, các ngài được gọi là “angelus”, có nghĩa là những các “sứ thần” hay “thiên sứ”, tức là những sứ giả của Thiên Chúa, được Chúa sai đi để thi hành một sứ mạng nào đó. Tuy nhiên vai trò của thiên sứ không chỉ giới hạn vào chức vụ loan tin; các ngài vẫn túc trực trước nhan Chúa để chúc tụng ngợi khen Ngài.
Không ai biết được con số các thiên sứ là bao nhiêu. Mặt khác, Kinh Thánh không nói nhiều đến các ngài, bởi vì trọng tâm của Kinh Thánh là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và loài người. Điều đáng nói là tuy không biết con số các thiên thần, nhưng truyền thống Kitô giáo cũng suy là có một hệ trật giữa các thiên thần, chứ không phải tất cả đều ngang hàng với nhau.
Đây không phải là sự phân chia của Kinh Thánh mà là của một đan sĩ vô danh sống vào thế kỷ VI, mạo danh là Điônisiô, đã viết cuốn sách De Caelesti Hierarchia (Phẩm trật trên trời). Dựa theo mô hình của tiến trình hướng về sự toàn thiện (gồm có ba chặng: thanh luyện, soi sáng và hoàn bị), ông chia các thiên sứ thành 3 cấp và mỗi cấp gồm ba đẳng. Từ đó nhân ra thành 9 đẳng, quen gọi là 9 phẩm thiên thần, tương tự với cửu phẩm trong hàng triều thần đời xưa.
Ông Điônisiô đặt đẳng thấp nhất là các thiên thần và đẳng cao nhất là thần Kêrubim. Lần lượt đi từ dưới lên, ông bắt đầu với các Thiên thần (angeli), với nhiệm vụ gìn giữ loài người (quen gọi là thiên thần hộ thủ). Cấp thứ hai là các Tổng thiên thần (archangeli) mà chúng ta đã biết danh tánh của một số vị (Micael, Raphael, Gabriel), được ủy thác vài sứ vụ quan trọng. Cấp thứ ba được gọi là Lãnh thần (Principatus) thống lãnh điều khiển các dân tộc. Cấp thứ bốn mang danh là Quyền thần (Potestates) giao tranh với ma quỷ. Cấp thứ năm được gọi là Dũng lực (Virtutes) bởi dũng cảm thi hành những việc diệu kỳ. Cấp sáu mang danh là Quản thần (Dominationes) quản trị vũ trụ. Ba cấp cuối cùng là: thứ bảy, các Bệ thần (Throni) nổi về trí hiểu; thứ tám, các Sêraphim nổi bật về sốt mến; thứ chín, các Kêrubim rạng rỡ ánh sáng bởi vì sát với toà Chúa.
Hai cấp ở dưới cùng (thiên thần và tổng thiên thần) thì dễ hiểu rồi. Hai cấp cao nhất (Sêraphim và Kêrubim) thì dựa theo Kinh Thánh như sẽ nói sau. Còn danh xưng của 5 cấp độ còn lại thì lấy ở các thư của thánh Phaolô gửi Côlôsê (1,16; 2,10.15) và Êphêsô (1,21; 3,10; 6,12). Duy có điều là trong các thư của thánh Phaolô, các danh từ ấy ám chỉ các quyền lực chống lại Thiên Chúa và đàn áp các tín hữu. Xem ra thánh Phaolô lấy các từ ngữ này từ văn chương khải huyền Do thái thời đó, ám chỉ các quyền lực thống trị vũ trụ. Thánh tông đồ đã du nhập các từ ngữ đó nhưng thêm rằng các quyền lực đã bị đức Kitô chế ngự rồi, vì thế các tín hữu không còn phải sợ hãi gì nữa! Còn ông Điônisiô thì rửa tội cho chúng, và biến thành các đẳng thiên thần, phụ tá cho Thiên Chúa trong việc điều hành vũ trụ. Nên biết là trước đây các kinh Tiền tụng trong Thánh lễ có nhắc đến các phẩm trật thiên thần trong khúc kết thúc; nhưng với Sách lễ sau công đồng Vaticanô II thì họ đã bị loại. Lý do có lẽ vì chức vụ của các vị không được rõ ràng cho lắm.
Theo mô hình của ông Điônisiô, các cấp thiên thần thuộc hạ đẳng và trung đẳng thì phải phụ trách việc quản trị vũ trụ; còn các cấp thượng đẳng thì phục vụ toà Chúa. Dù sao theo ông ta, càng gần toà Chúa bao nhiêu thì các thiên sứ càng nhận được nhiều ánh sáng và lửa mến bấy nhiêu. Vì thế mà ông đặt hai cấp Sêraphim và Kêrubim ở cấp 8 và cấp 9.
Kinh Thánh có một lần nói tới các Sêraphim ở sách ngôn sứ Isaia, chương 6. Nên biết là Sêraphim không phải là tên của một cá nhân mà là của một đoàn ngũ (ở số nhiều). Khi kể lại việc được Chúa kêu gọi làm ngôn sứ, ông Isaia thuật lại thị kiến được thấy trong đền thờ: Thiên Chúa ngự trên toà cao, với các Sêraphim vây quanh, miệng không ngừng chúc tụng “Thánh, thánh, thánh”. Một vị đã mang một cục than đỏ đến thanh luyện môi miệng ông để ông xứng đáng công bố lời Chúa. Từ quang cảnh này, người ta đã rút ra hai biểu tượng về Sêraphim. Biểu tượng thứ nhất, khá quen thuộc ở Việt Nam, áp dụng cho các ca đoàn, ca hát chúc tụng Chúa. Biểu tượng thứ hai là lòng sốt mến, dựa theo nguyên ngữ trong tiếng Do thái (serap) có nghĩa là đốt cháy, bừng cháy. Các tu sĩ dòng Phanxicô quen áp dụng nghĩa này cho thánh tổ phụ. Dù sao, cần nhấn mạnh rằng Sêraphim ám chỉ một phẩm (một đẳng) thiên thần chứ không là một cá nhân. Vì thế nếu phụng vụ không dành lễ kính thì cũng chẳng lạ gì.
Các Kêrubim được nhắc tới nhiều lần trong Kinh Thánh. Danh xưng Kêrubim gốc từ tiếng babilon karibu (kẻ cầu nguyện, chuyển cầu, chúc tụng). Nguồn gốc của nó từ miền Cận đông, ám chỉ các thần linh nửa người nửa thú (đầu người, thân sư tử, chân bò, cánh đại bàng; như ông Êdêkiel tả lại ở chương 1). Các tác giả Kinh Thánh đã du nhập từ ngữ này để ám chỉ các thần hầu cận bên nhan Chúa. Ta thấy một Kêrubim xuất hiện ở đầu Sách Sáng thế (3,23) đứng gác ngoài vườn địa đàng, ngăn cản không cho nguyên tổ được đụng tới cây trường sinh. Tuy nhiên vai trò của các Kêrubim trở nên quen thuộc với dân Do thái từ khi ông Môsê cho phép đúc 2 tượng Kêrubim bằng vàng đặt ở đầu của hòm bia. Chính từ đó mà Thiên Chúa đã ban sấm ngôn (Xh 25,18-22; 37,7; Ds 7,89). Vì thế mà có thành ngữ “Thiên Chúa ngự trên các Kêrubim” (1 Sm 4,4; 2 Sm 6,2; Is 37,16). Đến khi vua Salomôn xây cất đền thờ tại Giêrusalem, ông cũng duy trì tập tục đó, tạc hai tượng Kêrubim bằng gỗ ôliu chạm vàng, đứng hai bên cạnh hòm bia, phủ cánh che rợp hòm bia (1 V 6,23-28). Sang Tân ước, ta thấy sách Khải huyền (5,14; 19,4) lấy lại hình ảnh các Kêrubim, và trao cho trách vụ ca hát chúc tụng Thiên Chúa. Họ chiêm ngưỡng nhan Chúa.
Tóm lại, đang khi mà nhiều dân miền Cận đông tôn kính các Kêrubim như là thần linh tối cao, thì Kinh Thánh đã du nhập hình ảnh Kêrubim, và đồng thời đã biến đổi chúng, không coi đó là thần linh tối cao mà chỉ là cận thần của Thiên Chúa. Thiên Chúa được hình dung như hoàng đế ngự trong cung điện, với triều thần hầu cận. Đó là nói trong Cựu ước. Còn các tác giả tu đức Kitô giáo, khi chú giải các đẳng trật thiên thần dựa theo mô hình của ông Điônisiô, nhấn mạnh rằng càng tiến trên thánh thiện, càng gần gũi với Thiên Chúa, thì con người càng được tăng thêm lửa sốt mến (Sêraphim) và sự hiểu biết về Ngài (Kêrubim).
Nói cho cùng, ý tưởng ấy cũng đúng thôi. Nhưng chúng ta không thể biết chính xác con số cấp bậc là bao nhiêu cũng như không thể đặt tên cho mỗi cấp. Đại khái, ta có thể mô tả các cấp bậc của các thụ tạo như sau, từ dưới đi lên. Ở cấp thấp nhất là các khoáng chất. Lên trên là loài có sự sống, tức các sinh vật. Cao hơn nữa là các sinh vật có tri thức khả giác, tức là các động vật; lên một cấp nữa là loài người, là những sinh vật có tri thức khả giác và trí tuệ. Sau cùng là những hữu thể thuần thiêng mà ta gọi là các thiên sứ. Rồi giữa các thiên sứ, ông Đionisiô thiết lập một phẩm trật: càng lên cao thì càng gần Thiên Chúa hơn và hiểu biết Ngài hơn; và cấp cao thì truyền thông sự hiểu biết cho cấp dưới.
Có chứ. Chúng ta có thể nghĩ đến chính bản thân con người là một tiểu vũ trụ. Trong con người, có những thành phần khoáng vật, sinh vật, cảm giác và trí tuệ. Ở cấp độ cao nhất là trí tuệ, có nhiệm vụ điều hành các thành phần khác. Giữa các giác quan, ta cũng có thể nói đến một trật tự, chẳng hạn đôi mắt ở trên cùng, với tầm nhìn xa; thính giác cũng tương tự như vậy; còn các giác quan khác thì phải chạm đến đối tượng thì mới có tác dụng. Điều quan trọng là lý trí điều khiển ý chí, và ý chí điều khiển các hoạt động khác của cơ thể. Ngoài ra, con người không sống đơn độc nhưng sống với người khác trong xã hội. Và rồi xã hội cũng cần có trật tự; và chúng ta thấy những nhà quản trị tốt phải là những người thông minh sáng suốt để hướng dẫn cộng đồng đến một mục tiêu chung. Nếu không có người lãnh đạo thì xã hội sẽ rối loạn, hoặc sẽ áp dụng quy luật của bạo lực, không khác luật rừng bao nhiêu.
Thánh Tôma trả lời rằng các thiên thần (gồm cả ma quỷ) không thể ảnh hưởng trực tiếp đến trí tuệ và ý chí của chúng ta, nhưng họ có thể chi phối cách gián tiếp. Họ không thể nhét tư tưởng vào đầu óc chúng ta, nhưng có thể gợi lên những hình ảnh để dụ dỗ ý chí ưng thuận. Ý chí con người luôn luôn có tự do định đoạt theo sự nhận thức của lý trí. Các thiên thần không thể ép buộc ý chí của chúng ta phải quyết định; tuy nhiên họ có thể trình bày một điều tốt (tốt thật sự hay tốt giả dối) để xúi giục ý chí chấp nhận điều đó. Nếu đó là các ma quỷ, thì chúng ta gọi là cám dỗ. Dù sao, theo thánh Tôma, duy một mình Thiên Chúa mới có thể tác động trực tiếp đến trí tuệ và ý chí của con người. Đó cũng là điều mà thánh Phaolô cầu chúc cho các tín hữu Philipphê: “Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng như hành động của anh em do lòng mến thương của Ngài, anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca phản kháng” (Pl 2,13-14).
Để trả lời cho vấn nạn ấy, có ý kiến (chẳng hạn ông Origène) cho rằng Thiên Chúa không tác động đến chính quyết định tự do mà chỉ ban cho con người khả năng tự do mà thôi. Con người vẫn duy trì sự quyết định làm điều này hoặc làm điều kia. Thế nhưng theo thánh Tôma, Thiên Chúa không chỉ ban cho con người ý chí mà cả hành vi của ý chí nữa, xét vì Thiên Chúa là nguyên nhân của mọi hữu thể. Chúng ta có thể lấy một thí dụ vật chất cho dễ hiểu. Chúa ban cho tôi khả năng đi lại, và hành vi đi lại. Nhưng việc đi nhà thờ hay đi chơi là do sự chọn lựa của tôi. Chúng ta có thể nói một cách tương tự về hành vi của ý chí: Thiên Chúa là nguyên nhân của hành vi, nhưng hành vi tốt hay xấu là tại tôi. Như vậy là chúng ta trở lại với câu chuyện hai nguyên nhân đã nói trên đây: Thiên Chúa tác động như là nguyên nhân đệ nhất (nguyên nhân hữu thể), còn chúng ta là nguyên nhân đệ nhị.
Sự quan phòng của Thiên Chúa là chắc chắn, chứ không thay đổi. Tuy nhiên, điều này không loại bỏ sự ích lợi của việc cầu nguyện[1]. Lý do là vì chúng ta cầu nguyện không phải để xin Chúa thay đổi ý kiến, nhưng là để xin Chúa ban cho ta điều trông mong. Theo thánh Tôma, Thiên Chúa đón nhận những ước nguyện của chúng ta và sẵn sàng ban các ơn lành cho chúng ta. Một người bạn tốt thì muốn làm vui thỏa những ước nguyện của người mình yêu thương. Vì thế Thiên Chúa là người cha, người bạn, ắt là Ngài muốn cho những ước vọng của loài người được thỏa mãn. Chính Ngài đã hứa: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ thì cửa sẽ mở” (Mt 7,7).
Các Thánh đã đưa nhiều lý do giải thích vì sao Chúa không ban điều mà ta cầu xin.
- Đôi khi bởi vì điều chúng ta xin không phải là điều tốt lành thực sự mà chỉ là một điều tốt giả tạo, nghĩa là một điều xấu. Thánh Giacôbê viết: “Anh chị em xin mà không được bởi vì anh chị em xin điều xấu” (Gc 4,3).
- Lúc khác, lời cầu xin không được đoái nhận bởi vì thiếu kiên trì, như Chúa đã dạy: “Hãy cầu nguyện luôn mãi, không ngừng” (x. Lc 18,1).
- Lúc khác, chúng ta xin mà không được bởi vì không gần gũi Chúa. Thế nào là không gần gũi Chúa? Đó là không có đức tin, hoặc yếu tin, hoặc thiếu khiêm nhường, kẻ không sống trong ơn nghĩa với Chúa. Thánh Giacôbê khuyên chúng ta hãy cầu nguyện “với đức tin, không do dự” (Gc 1,6).
Dù sao, chúng ta cũng biết rằng đôi khi Chúa cũng không nhậm lời các bạn hữu tôi trung của Ngài, bởi vì Ngài có một dự định khác. Thánh Phaolô là một thí dụ điển hình. Ông phải mang một cái dằm trong thân xác, một thủ hạ của Satan đến vả mặt. Đã ba lần, ông xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ ấy, và được trả lời rằng: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,7-9). Lúc khác, thánh Phaolô thú nhận rằng “Cả chúng ta cũng không biết phải xin điều gì xứng hợp” (Rm 8,26). Nói tóm lại, trong chương trình quan phòng, Chúa muốn cho chúng ta cầu nguyện, không phải để xin Chúa thay đổi ý định của Ngài, nhưng là để chúng ta nhận ra ý định ấy và tham phần vào kế hoạch của Ngài. Thánh Augustinô cũng nói rằng Chúa muốn chúng ta cầu nguyện để chúng ta ý thức rằng mình cần đến Ngài. Cũng nên biết là thánh Tôma đã nêu ra hai sai lầm liên quan đến cầu nguyện.
Thứ nhất, có người cho rằng cầu nguyện là vô ích, hoặc là vì họ hoàn toàn chối bỏ sự quan phòng, hoặc là họ cho rằng Chúa không quan tâm đến những chuyện của con người; hoặc ngược lại, họ nghĩ rằng Chúa đã quan phòng thì tất nhiên phải xảy đến, không thể thay đổi. Kết luận là họ bỏ cầu nguyện và cũng bỏ đạo luôn. Thực ra điều này không phải là mới lạ, bởi vì chúng ta đã nghe ngôn sứ Malaki kể lại lời than phiền: “Phụng sự Chúa đâu có ích gì? Chúng tôi đã tuân giữ các điều răn của Ngài mà chẳng nhận được gì cả” (Mk 3,14). Dù sao, sự sai lầm thứ hai còn trầm trọng hơn nữa.
Bởi vì họ nói rằng Thiên Chúa có thể thay đổi quyết định. Họ trưng dẫn nhiều bằng chứng của Kinh Thánh. Chẳng hạn như trường hợp vua Edêkia (Khít-ki-gia) được thuật lại ở sách Isaia chương 38. Ngôn sứ nhận được lệnh Chúa đến báo cho nhà vua rằng ông hãy chuẩn bị ra đi vì đã cái chết đã kề... Thế rồi nhà vua khóc lóc thảm thiết đến nỗi Chúa động lòng và cho ông sống thêm 15 năm nữa. Các ngôn sứ như Giêrêmia (18,5-8) hoặc Gioel (2,13-14), kêu gọi dân Israel hãy ăn năn hối cải, vì biết đâu Chúa sẽ nguôi giận và rút lại hình phạt mà Ngài đã giáng xuống. Thánh Tôma lưu ý rằng không nên hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen, cho rằng Thiên Chúa cũng cư xử như chúng ta, có lúc thay lòng đổi dạ. Kinh Thánh cũng không thiếu những đoạn văn nói rằng Thiên Chúa không bao giờ thay đổi, chẳng hạn như Malakia 3,6: “Ta là Đức Chúa; Ta không thay đổi”. Dù sao, không nên dùng một đoạn văn này để phản biện đoạn văn khác. Tốt hơn, chúng ta nên phân biệt giữa trật tự “phổ quát” và những trật tự “riêng rẽ”. Thiên Chúa là nguyên nhân phổ quát, cho nên có một trật tự phổ quát bao trùm tất cả mọi vật, mà không ai và không có gì làm thay đổi được; một trật tự riêng rẽ thì có thể thay đổi do lời cầu nguyện hay một phương thế nào khác.
Nơi loài người, chúng ta phân biệt giữa lý trí và ý chí. Ý chí tuân hành những gì mà lý trí cho là đúng và tốt. Nơi Thiên Chúa, không có sự phân biệt giữa hai quan năng ấy; hơn thế nữa, Thiên Chúa (cũng như các thiên thần) không lý luận dài dòng để khám phá chân lý, nhưng nắm bắt chân lý theo trực giác. Thế nhưng, khi diễn tả cách thức hành động của Thiên Chúa, Kinh Thánh dùng những ngôn ngữ dựa theo kinh nghiệm của thế giới loài người. Vì thế không lạ gì mà chúng ta đọc thấy những đoạn văn cho thấy Thiên Chúa quyết định độc đoán, chẳng có suy nghĩ đắn đo gì hết. Chẳng hạn như trong Thánh vịnh 135,6: “Muốn làm gì là Chúa làm nên, trên trời cao cũng như dưới đất thấp”, hoặc như thánh Phaolô viết trong thư gửi cho các tín hữu Rôma như sau: “Nào ai cưỡng lại được ý muốn của Chúa?”. Sự thực không phải như vậy đâu, Thiên Chúa có một kế hoạch chung cho muôn loài: tất cả đều phải hướng về một cùng đích là chính Ngài. Bên cạnh đó, Ngài cũng hướng mỗi vật theo một mục đích riêng của nó. Điều khó khăn đối với chúng ta là làm thế nào nhận ra chương trình của Thiên Chúa, cách riêng khi nó không phù hợp với sự tính toán của chúng ta; vì thế chúng ta than trách là Chúa quyết định phi lý. Ngoài ra, chúng ta cũng đừng nên quên rằng mọi sự xảy ra trên đời không chỉ tùy thuộc vào ý Chúa mà thôi, nhưng còn tùy thuộc vào các nguyên nhân đệ nhị nữa. Phải thú nhận rằng không dễ gì nối kết giữa Thiên Chúa là nguyên nhân đệ nhất với các nguyên nhân đệ nhị, cách riêng là khi chính Chúa đã ban cho chúng được tự do suy nghĩ và hành động.
Trước khi đi vào chi tiết, chúng ta nên giải thích từ ngữ[2]. Trong tiếng Việt, tiếng “phép lạ” muốn nói lên điều khác thường; còn trong tiếng Latinh, miraculum còn thêm ý nghĩa là ngạc nhiên, đáng thán phục. Khái niệm phép lạ mang tính tương đối, chẳng hạn như cách đây 100 năm, máy bay là một phép lạ: mọi người ngạc nhiên tự hỏi làm thế nào mà một khối sắt có thể bay lên trời được? Nhưng ngày nay, máy bay là chuyện thông thường, không ai thèm chạy ra xem nữa! Ngoài ra, dưới khía cạnh triết học, phép lạ có thể phân ra nhiều cấp bậc, ít là ba cấp:
1) Cấp cao nhất là những điều mà tự nhiên không thể làm được (vượt quá khả năng của nó), chẳng hạn mặt trời đi lùi lại hoặc đứng yên; hoặc nước biển rẽ ra và chừa một lối đi ở giữa.
2) Cấp thứ hai là Thiên Chúa làm điều mà tự nhiên có khả năng làm được, tuy không theo một cách thức thông thường; chẳng hạn người mù trông thấy, người què chỗi dậy đi được.
3) Cấp thứ ba là Thiên Chúa làm một điều mà thường cần đến sự can thiệp của một nguyên nhân thứ hai, nhưng trong trường hợp này thì không cần nữa; chẳng hạn một người bệnh cần thuốc thì sẽ được chữa lành, nhưng bây giờ không cần thuốc mà vẫn lành bệnh.
Ở ba cấp vừa nói, hệ quả của chúng đều được coi là “lạ” theo nghĩa là “khác thường”, nhưng chắc chắc rằng sự can thiệp của Thiên Chúa sâu xa hơn ở cấp thứ nhất, bởi vì hoàn toàn vượt quá khả năng của tự nhiên (nguyên nhân đệ nhị), và cần đến sự can thiệp trực tiếp của Ngài; còn hai trường hợp sau thì nằm trong khả năng tự nhiên, và nguyên nhân đệ nhị có thể thực hiện được. Điều này đặt ra một sự khó khăn khi chứng minh một phép lạ trong thủ tục phong thánh, đó là cần phải xác nhận rằng sự kiện này xảy ra do sự can thiệp của Chúa chứ không phải do bất cứ một thụ tạo nào gây ra. Chúng ta nhớ lại chuyện của ông Mosê khi tiếp xúc với vua Pharaô bên Ai-cập: ông làm vài phép lạ để thuyết phục nhà vua; nhưng nhà vua cũng kêu các phù thủy làm những điều tương tự. Tuy nhiên, đến một mức nào đó, các phù thủy bó tay.
Dù sao, nhìn từ phía Thiên Chúa thì trật tự thiên nhiên là do chính Ngài xếp đặt, cho nên không có gì ngăn cản Ngài thực hiện một điều gì ngoài trật tự thông thường, cách riêng khi Ngài muốn bày tỏ tình thương đối với một người nào đó.
Trong lịch sử các tôn giáo, có thuyết Manikê (quen dịch là nhị nguyên), chủ trương rằng vũ trụ này có hai nguyên nhân là thần Thiện và thần Ác. Thiên Chúa là thần Thiện và dựng nên điều tốt, còn thần Ác là nguồn gốc của mọi sự dữ, và ma quỷ là tác phẩm của hắn. Đức tin Kitô giáo chủ trương chỉ có một Thiên Chúa, chứ không chấp nhận thuyết nhị nguyên và Thiên Chúa dựng nên điều tốt, và như vậy không chấp nhận cho những thụ tạo xấu từ bản tính[3].
Ma quỷ không xấu do bản tính, nhưng do tại ý chí, do hành vi tội lỗi.
Đối với chúng ta, tội là hành vi của ý chí, và ý chí đi theo phán đoán của lý trí. Nếu lý trí phán đoán sai lầm (bị mù quáng do đam mê, coi điều xấu là tốt) thì ý chí cứ làm theo sự chỉ dẫn ấy. Nhưng các thiên thần thì sáng suốt chứ không dốt nát, họ không bị sai lầm trong phán đoán; cho nên tội của họ bắt nguồn từ ý chí, chứ không phải từ trí tuệ. Hay nói cách khác, tội của họ là một hành vi chủ ý.
Lịch sử thần học đã ghi nhận rất nhiều giả thuyết liên quan đến tội các thiên thần. Dĩ nhiên, họ không có thân xác như loài người cho nên đừng ai nghĩ tới tội dâm dục. Câu trả lời hợp lý hơn cả là tội kiêu ngạo, theo nghĩa là muốn theo đuổi một mục đích riêng chứ không đi theo mục đích do Thiên Chúa ấn định. Có thể gọi là tội kiêu ngạo hay tội bất tuân phục cũng được. Tội bất tuân phục có thể nhằm đến chính Thiên Chúa hoặc nhắm đến cấp trên mà Chúa đã xếp đặt. Tội của các thiên thần không chỉ được hiểu như là tội của một thiên thần nhưng còn của nhiều thiên thần. Người ta hình dung rằng một thiên thần đã nổi loạn chống lại Thiên Chúa, và lôi kéo một số khác đi theo; hoặc là các thiên thần cấp dưới không chịu tuân theo thiên thần cấp trên. Dù sao, đó chỉ những giả thuyết do các nhà thần học suy diễn, chứ Kinh Thánh không cung cấp một dữ liệu nào về tội của các thiên thần.
- Nơi các thiên thần, tội hệ tại sự bất phục tùng Thiên Chúa hoặc bất phục tùng thiên thần ở cấp trên mà Thiên Chúa đã ấn định.
- Nơi con người, tội có thể xảy ra bằng hai cách. Một là ý chí không tùng phục Thiên Chúa. Dưới khía cạnh này thì tội con người giống tội các thiên thần. Hai là khi con người để cho lòng ước muốn giác cảm không tuân theo lòng ước muốn trí tuệ, tức là ý chí. Thiên thần không có thân thể và giác cảm cho nên không phạm tội theo cách này.
Đến đây, chúng ta kết thúc phần bàn về sự quan phòng nói chung. Trong mục tới, thánh Tôma sẽ bàn đến sự quan phòng dành riêng cho loài người, những thụ tạo được ban cấp lý trí và tự do, có khả năng hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa, cũng như được thông dự vào hình ảnh giống như Thiên Chúa.
[1] Thánh Tôma bàn về cầu nguyện ở CG III, 95-96.
[2] Thánh Tôma bàn về phép lạ ở CG III, 98-102.
[3] Thánh Tôma bàn về ma quỷ ở CG II,107-110.