Skip to content
Banner 10.2024
Ngôn ngữ

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles” của thánh Tôma Aquinô - Kỳ XV

Văn phòng Học Viện
2025-11-26 15:32 UTC+7 162
Tác phẩm "ĐÀM ĐẠO VỀ SUMMA CONTRA GENTILES CỦA THÁNH TÔMA AQUINÔ", của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP., là lời giới thiệu và tóm tắt về bộ Summa Contra Gentiles – bộ tổng luận quan trọng nhưng ít được biết đến của thánh Tôma Aquinô. Học viện Thần học Đa Minh đã giới thiệu cuốn sách này trước đây. Tác giả và Học viện Thần học Đa Minh tiếp tục đăng nội dung của cuốn sách, theo từng kỳ tương ứng với các mục trong bố cục tác phẩm, nhằm phục vụ nhu cầu của độc giả được rộng rãi hơn.

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles”

của thánh Tôma Aquinô

(1225-1274)

*****

Kỳ XV

Mục 14. Sự quan phòng đối với loài người (phần 1)

Thánh Tôma đã dành hơn 50 chương của quyển Ba (CG III, 111-163) để bàn về sự quan phòng của Thiên Chúa đối với loài người, bao trùm lãnh vực tạm gọi là “thần học luân lý”, với những đề tài như là: Thiên Chúa hướng dẫn loài người như thế nào? Ngài ban cho họ những luật nào và để làm gì? Con người có những nghĩa vụ nào đối với Thiên Chúa và tha nhân? Hôn nhân là điều xấu hay là điều tốt? Các lời khuyên Phúc âm; công trạng và ân sủng.

Tại sao phải bàn riêng về sự quan phòng dành cho loài người?

Bởi vì trong các thụ tạo trên mặt đất này, loài người trổi vượt hơn tất cả nhờ có trí tuệ, nhờ thế loài người không những có khả năng điều khiển bản thân mà còn điều khiển các loài khác. Vì thế có thể nói được là các loài khác được dựng nên cho loài người. Không lạ gì mà Thiên Chúa dành cho loài người một sự quan phòng đặc biệt. Nhờ trí tuệ, con người tìm kiếm sự hoàn thiện qua việc truy tầm chân lý, và sau đó áp dụng kiến thức vào việc điều khiển cuộc đời mình qua các nhân đức và các hoạt động thân xác. Trong Thánh vịnh 8, chúng ta đọc thấy những lời thán phục như sau: “Lẫy lừng thay danh Chúa khắp cả địa cầu… Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân”.

Đâu là điểm khác biệt giữa con người và các súc vật trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa?

Thiên Chúa hướng dẫn tất cả mọi sự về cùng đích của nó. Nhưng đối với các vật vô tri thì Ngài điều khiển chúng qua bản năng tự nhiên được ban cho chúng, còn đối với loài người thì Ngài ban cho lề luật để họ tự mình điều khiển các hành vi của mình, như chúng ta đọc thấy nơi nhiều đoạn văn Kinh Thánh, chẳng hạn như: “Ta sẽ đặt lề luật của Ta vào tâm hồn của chúng, sẽ viết luật của Ta trên trái tim của chúng” (Gr 31,33). “Ta đã viết nhiều luật vì nó” (Hs 8,12).

Luật Thiên Chúa nhằm tới điều gì?

Thánh Tôma trằ lời rằng luật của Chúa nhằm hướng con người về với Ngài, và tác giả lập luận như thế này. Mọi nhà lập pháp đều nhắm dùng pháp luật để hướng dẫn các công dân về mục đích của họ. Vậy thì Thiên Chúa dùng pháp luật để đưa con người đến đâu? Thưa rằng mục đích ấy là Thiên Chúa, như thánh Augustinô đã từng viết: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Ngài”. Mặt khác, mọi nhà lập pháp đều nhằm làm cho các công dân trở nên hoàn thiện. Vì thế luật Chúa nhắm đến những hành vi tuyệt hảo nhất. Thế mà trong các hành vi của con người, điều tuyệt hảo nhất là đưa con người đến gắn bó với Thiên Chúa, theo như sách Đệ-nhị-luật đã viết: “Giờ đây, hỡi Ísrael, nào ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh có đòi hỏi anh điều gì khác đâu, ngoài việc phải kính sợ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh, đi theo mọi đường lối của Người, yêu mến phụng thờ Người hết lòng, hết dạ, giữ các mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA và các thánh chỉ của Người mà tôi truyền cho anh hôm nay, để anh được hạnh phúc?” (Đnl 10,12-13). Bởi vì mục tiêu của luật Chúa là đưa con người gắn bó với Chúa, và con người gắn bó với Chúa đặc biệt nhờ tình yêu, cho nên luật Chúa nhằm đến việc yêu mến Thiên Chúa.

Con người yêu mến Thiên Chúa bằng cách nào?

Yêu mến là hành vi của ý chí. Con người yêu mến Chúa nhờ ý chí. Nhưng ý chí tuân theo sự hướng dẫn của trí tuệ. Nhờ trí tuệ soi sáng, ý chí gắn bó với Thiên Chúa như là Đấng Tốt lành tuyệt đối và Cứu cánh tối hậu của mình. Điều này cũng được Tân ước nhắc lại nhiều lần: “Điều răn thứ nhất là “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa của người, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” (Mt 22,38-39). Gắn liền với việc yêu mến Chúa là việc yêu mến tha nhân.

Tại sao vậy?

Thánh Tôma đưa ra nhiều lý do để giải thích.

- Thứ nhất là vì giữa những người có cùng một mục đích thì nảy ra một mối dây liên kết về tình cảm. Thế nhưng tất cả mọi người đều có chung một cứu cánh tối hậu là hạnh phúc là Thiên Chúa, cho nên họ cần liên kết với nhau trong cùng một tình yêu hỗ tương.

- Thứ hai, phàm ai đã yêu một người nào, thì cũng yêu những kẻ thân thích của họ và những người mà họ yêu. Thế nhưng, tất cả mọi người đều được Chúa yêu thương đến nỗi kêu gọi họ đến chia sẻ hạnh phúc với Ngài. Vì thế nếu ta yêu mến Chúa thì cũng trở thành người yêu của những người được Chúa yêu.

- Thứ ba, bản tính con người là sống kết đoàn, bởi vì để đạt tới mục tiêu của mình con người cần đến sự giúp đỡ của tha nhân. Điều này được diễn tả qua việc yêu thương nhau. Bởi vậy, luật Chúa hướng dẫn con người đến cứu cánh tối hậu, nên cũng truyền con người yêu mến tha nhân.

- Thứ bốn, con người cần sự an bình để chuyên lo việc Chúa. Thế mà những điều quấy rối an bình thì được loại bỏ cách đặc biệt nhờ tình yêu hỗ tương. Vì thế luật Chúa hướng dẫn con người đến chỗ chuyên lo việc Chúa thì cũng nảy sinh tình yêu giữa con người với nhau.

- Thứ năm, luật Chúa được ban để trợ giúp bản tính con người. Thế nhưng bản tính con người là yêu thương nhau, được biểu lộ qua việc giúp đỡ kẻ nào gặp khó khăn, chẳng hạn như chỉ đường cho một người đang lúng túng. Vì thế luật Chúa truyền cho loài người hãy yêu thương nhau. Điều này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước. “Đây là điều mà Thầy truyền cho các con, đó là các con hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 12). “Điều răn thứ hai cũng giống như điều răn thứ nhất: Ngươi hãy yêu mến kẻ thân cận như chính mình” (Mt 22,39). Thánh Gioan tông đồ cũng viết: “Đây là mệnh lệnh mà chúng ta đã nhận được: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu mến anh em mình” (1 Ga 4,21).

Luật Chúa chỉ buộc chúng ta mến Chúa và yêu tha nhân. Còn bổn phận nào khác nữa không?

Có chứ. Luật Chúa còn buộc chúng ta phải tin nữa. Đức tin chân thật là hệ luận của lòng yêu mến Thiên Chúa. Tình yêu đi theo sau sự hiểu biết. Lòng mến Chúa đi theo sự hiểu biết đối tượng tình yêu là chính Thiên Chúa. Thế nhưng khi còn sống ở đời này, con người chưa có thể hiểu biết trực tiếp về Thiên Chúa, nghĩa là ngắm nhìn trực tiếp Thiên Chúa, cho nên cần có đức tin. Vì thế mà luật Chúa truyền phải có đức tin chân thật.

Tại sao gọi là đức tin chân thật?

Ở đây, “chân thật” không hiểu như là đối lại với “giả dối” cho bằng trái ngược với “sai lầm”. Lịch sử các tôn giáo thế giới cho thấy rằng nhiều lần con người thờ lạy các ngẫu tượng thay vì thờ lạy Thiên Chúa tại vì họ không có nhận thức về Thiên Chúa thật. Ngay cả các tín hữu cũng có thể rơi vào khuyết điểm ấy khi chúng ta hình dung Thiên Chúa không trung thực với bản tính Thiên Chúa, hoặc khi chúng ta tin Chúa trên lý thuyết nhưng lại chạy theo tiền tài, coi nó như cứu cánh của cuộc đời. Vì thế, chúng ta buộc phải yêu mến Chúa, và yêu mến Chúa thật chứ không phải một vị chúa do chúng ta nặn ra. Tác giả thư gửi Hipri nhắc nhở chúng ta: “nếu không có đức tin thì không thể nào làm đẹp lòng Chúa; ai đến gần Chúa thì cần phải tin rằng Ngài hiện hữu và ban thưởng cho những kẻ kiếm tìm Ngài” (Hr 11,6).

Con người tìm đến Thiên Chúa bằng cách nào? Chỉ bằng trí tuệ mà thôi hay sao?

Như đã nói trên đây, con người vượt lên trên các thụ tạo khác trên địa cầu vì có trí tuệ và ý chí. Vì thế dĩ nhiên là con người tìm cách kết hợp với Thiên Chúa bằng sự hiểu biết và yêu mến. Tuy nhiên đừng quên rằng con người chúng ta không chỉ bao gồm trí tuệ và ý chí mà còn có thân xác và các giác quan nữa. Vì thế con người được huy động tất cả mọi khả năng về Thiên Chúa. Giới răn yêu mến trong sách Đệ-nhị-luật (6,5) lưu ý điều ấy: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”. Trên thực tế, trong điều kiện hiện tại, sự hiểu biết của chúng ta khởi đi từ những vật khả giác đến điều trừu tượng. Vì thế trên con đường hướng đến sự kết hiệp với Thiên Chúa, con người cũng cần sử dụng những sự vật khả giác, cách riêng đối với những ai khó chiêm ngắm các thực tại thần linh cách trực tiếp. Dù sao, ta có thể nói rằng chính Thiên Chúa đã muốn xếp đặt như vậy.

Thiên Chúa đã xếp đặt thế nào để con người từ những vật khả giác có hiểu biết và yêu mến Ngài?

Ta có thể kể ra ba đường lối như sau: một là các hy tế; hai là các bí tích; ba là những cử chỉ thân thể.

1/ Trước hết, Thiên Chúa đã ấn định các hy tế hữu hình để dâng lên Ngài, không phải bởi vì Ngài cần đến chúng, nhưng là để nhắc nhở con người hãy quy hướng bản thân và tất cả những gì mình có về với Ngài là Chủ tể và Cùng đích mọi vật.

2/ Rồi Thiên Chúa đã quyết định áp dụng cho con người những việc thánh hiến nhờ những vật hữu hình kèm theo những lời khả giác, qua đó con người được tẩy rửa, xức dầu, nuôi dưỡng; đó là những dấu chỉ hữu hình của những ân huệ thần linh mà Ngài ban cho con người[1].

3/ Thiên Chúa cũng ấn định những hành vi khả giác, qua đó con người được hướng lên những thực tại thần linh, chẳng hạn như những cử chỉ thân thể (bái lạy, quỳ gối, ca hát). Ngài không cần đến những thứ đó, nhưng Ngài muốn cho con người nuôi dưỡng tâm tình tôn thờ Thiên Chúa, là Đấng dựng nên cả hồn và xác của ta. Đành rằng Thiên Chúa muốn chúng ta suy phục và yêu mến Ngài với tâm tình nội tại, nhưng con người chúng ta cần sử dụng những dấu hiệu bên ngoài để giúp cho linh hồn dễ nâng cao lên cùng Thiên Chúa.

Chúng ta phải tôn thờ Thiên Chúa. Ngoài Ngài ra, ta có được phép tôn thờ ai khác không?

Trong tiếng Việt, từ ngữ hơi hàm hồ. Tiếng “thờ” được dùng rất rộng rãi, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, thờ cha kính mẹ. Trong ngôn ngữ thần học bằng tiếng La-tinh, có sự phân biệt giữa việc “thờ lạy” (adoratio) và “tôn kính” (veneratio). Việc thờ lạy chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi; còn với các thụ tạo khác (dù là các thần thánh trên trời hay là tổ tiên ông bà cha mẹ) thì chỉ được phép tôn kính. Điều này muốn nêu bật sự khác biệt giữa một bên là Thiên Chúa, một bên là các thụ tạo; không thể nào đặt ngang hàng với nhau được. Thật ra, sự phân biệt này thuộc lãnh vực ý tưởng hơn là lãnh vực cử chỉ bên ngoài, bởi vì phong tục nhiều dân tộc không chỉ dành riêng việc bái lạy cho Thiên Chúa nhưng cũng dùng cử chỉ ấy cho những nhân vật cao trọng nữa. Một cách tương tự như vậy, việc hiến tế (tế lễ) trên nguyên tắc thì chỉ dành riêng Thiên Chúa là Chủ tể vạn vật; nhưng nơi nhiều dân tộc, sự cúng tế không chỉ dành cho các thần linh mà cho các bậc tổ tiên nữa. Việc thờ lạy cúng tế dành cho các thụ tạo đã bị lên án là thờ ngẫu tượng (idolatria) trong Cựu ước cũng như trong Tân ước (x. Rm 1,22-23.25). Dù sao, đừng quên rằng tội thờ ngẫu tượng cũng chỉ xảy ra nơi các dân tộc sơ khai nhưng luôn rình rập ở mọi thời đại, kể cả thời nay, khi con người chạy theo tiền tài, quyền lực, ý thức hệ... và coi đó như thần tượng.

Luật Thiên Chúa chỉ nhằm hướng con người hướng đến Cùng đích cuộc đời qua việc gắn nó với Ngài, hay còn bao gồm những mục tiêu khác nữa?

Luật Chúa hướng dẫn con người về cùng đích tối hậu. Con người định hướng cuộc đời bằng lý trí và ý chí. Tuy nhiên con người không chỉ có hai quan năng đó mà thôi, nhưng còn có những cảm xúc, dục vọng nữa; do đó cũng cần phải điều khiển chúng nữa. Vì thế không lạ gì luật Chúa còn chứa đựng nhiều điều răn liên quan đến việc hướng dẫn các ước muốn và các hành động, nhằm thiết lập trật tự trong bản thân cũng như trong mối tương quan với tha nhân. Trật tự ấy đòi hỏi rằng linh hồn suy phục Thiên Chúa, thân xác suy phục linh hồn, các cảm giác suy phục lý trí, các của cải vật chất phục vụ (chứ không thống trị) con người. Đó là lý do vì sao ta thấy danh sách 10 điều răn: bên cạnh những điều răn chi phối tương quan con người với Thiên Chúa, còn có những điều răn chi phối tương quan với tha nhân, đòi hỏi ta phải tôn trọng sinh mạng, tài sản của họ.

Tại sao luật Chúa còn bao gồm những quy định về tương quan với người thân cận?

Thánh Tôma đã trưng ra nhiều lý do.

- Thứ nhất, luật Chúa hướng dẫn con người đi theo trật tự của lý trí khi đụng chạm đến các thực tại. Thế nhưng trong số những thực tại mà con người đụng chạm, quan trọng nhất là với tha nhân. Con người không thể nào sống mà không cần đến những người khác. Vì thế con người cần được luật Chúa hướng dẫn để biết cách cư xử với tha nhân phù hợp với trật tự lý trí.

- Thứ hai, mục tiêu của luật Chúa là giúp con người gắn bó với Thiên Chúa để đạt đến hạnh phúc. Thế nhưng con người được giúp đỡ bởi những người khác để gắn bó với Thiên Chúa, hoặc là để biết Ngài hoặc là để mến Ngài. Thật vậy con người ta giúp đỡ lẫn nhau đế tìm kiếm chân lý và thôi thúc nhau làm điều tốt và tránh làm điều xấu. Sách Giảng viên (4,9-10) có nói: “Ở hai người thì tốt hơn ở một mình... bởi vì nếu té ngã, thì người này nâng người kia chỗi dậy. Vô phúc cho ai ở một mình vì nếu té ngã thì không ai nâng ai nâng dậy”. Vì thế luật Chúa cần hướng dẫn các tương quan xã hội của con người.

- Thứ ba, sự quan phòng của Thiên Chúa giữ gìn trật tự giữa những vật mà Ngài đã dựng nên, ngõ hầu mỗi vật duy trì thứ tự và cấp độ của mình. Điều này có nghĩa là duy trì hòa bình giữa loài người với nhau, bởi hòa bình chính là sự hài hòa trật tự (T. Augustinô). Nhưng thế nào là hài hòa trật tự? Thưa rằng khi mỗi người trao cho người khác điều thuộc về họ; lẽ công bình là như thế. Và rồi công bình sẽ mang lại kết quả là hòa bình, như ngôn sứ Isaia (32,17) đã nói.

Chính vì thế mà luật Chúa bao gồm những quy tắc liên quan đến trật tự công bình giữa con người với nhau.

Đó có phải là ý nghĩa của 7 điều răn còn lại, sau 3 điều răn liên quan đến Thiên Chúa không?

Đúng thế. Trong những mối tương quan xã hội, món nợ đầu tiên là đối với cha mẹ; vì thế có điều răn hãy thảo kính cha mẹ. Kế đó là những mệnh lệnh ngăn cấm ta không được gây thiệt hại cho tha nhân: Không được gây thiệt hại cho bản thân của họ (“chớ giết người”), cho người thân thiết của họ (“chớ phạm tội ngoại tình”); cho tài sản của họ (“chớ trộm cắp”); rồi không được làm hại cho tha nhân bằng lời nói (“chớ làm chứng gian”), hoặc bằng tâm tình (“ước muốn chiếm đoạt vợ hay chồng, hay tài sản của người ta”).

Những điều luật này chỉ buộc tuân giữ bên ngoài mà thôi, hay còn đòi hỏi bên trong nội tâm nữa?

Những điều luật này nhắm diễn tả lòng yêu mến đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tình yêu bắt nguồn từ bên trong. Một khi đã yêu người nào thì ta sẵn sàng tôn trọng sự công bình đối với người ấy, thậm chí còn đi xa hơn nữa. Tiếc rằng có những người không sẵn sàng thực hiện điều đó, cho nên phải ép buộc họ tuân hành nghĩa vụ pháp lý qua những hành vi bên ngoài nữa.

Làm thế nào để biết một hành vi là tốt hay xấu? Cứ thi hành đúng như luật truyền là tốt rồi, phải không?

Để phán đoán các hành vi là tốt hay xấu thì ngoài những quy tắc của luật truyền, cần phải xét đến bản chất của nó nữa. Có những hành vi hợp với bản tính con người, vì thế tự nó là tốt, chẳng hạn như ăn uống, đi đứng, vân vân. Những hành vi ấy giúp con người đạt tới cứu cánh của đời sống. Cần phải ăn để sống, cho nên ăn là điều tốt. Ngược lại, có những hành vi tự nó là xấu, chẳng hạn như tuy ăn uống là cần thiết để sống, nhưng nếu ăn uống quá độ đến mức say sưa, không có thể sử dụng lý trí nữa, thì lúc ấy là xấu.

Trong tương quan với người khác, giữ phép công bình có nghĩa là không làm thiệt hại cho họ, nhất là biết tôn trọng tự do của họ. Tại sao sự giao hợp giữa người nam và người nữ lại bị cấm? Đâu có gì là xấu, nhất là khi cả hai đều tự do đồng ý? Tại sao sự giao hợp lại được phép thực hành trong hôn nhân?

Tính cách luân lý của một hành vi cần được quy chiếu về mục đích của nó. Điều gì không phù hợp với mục đích thì bị coi là xấu. Sự giao hợp nam nữ nhằm đến việc truyền sinh, bảo tồn chủng loại. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa loài động vật và loài người. Các động vật chỉ sinh đẻ con cái là xong; còn loài người, sau khi sinh đẻ còn phải dưỡng nuôi giáo dục con cái nữa. Điều này đòi hỏi sự kết hợp vững bền giữa nam nữ mà ta gọi là hôn nhân. Vì lý do đó mà sự giao hợp nam nữ cần được đánh giá xét theo mục đích của nó, nghĩa là đặt trong quan hệ vợ chồng, mang tính cách lâu bền. Các thú vật gặp gỡ nhau chớp nhoáng, nhưng con người muốn duy trì mối quan hệ trong đời sống vợ chồng, mà nòng cốt là tình yêu bạn hữu. Mối quan hệ vợ chồng đòi hỏi sự vững bền kéo dài suốt đời.

Có nghĩa là hôn nhân mang đặc tính bất khả ly phải không?

Đúng vậy. Đừng kể những điều Chúa truyền trong Kinh Thánh, thánh Tôma còn đưa những lý do sau đây.

1/ Sự tan vỡ hôn nhân gây ra nhiều bất công. Trong hôn nhân, người nữ không chỉ lo việc sinh con đẻ cái (như trong loài thú vật), mà còn muốn tìm một sự nâng đỡ nơi người nam. Người nam có nhiều sức lực hơn. Nếu người nam lấy người nữ khi cô còn trẻ đẹp mà lại bỏ rơi cô khi già nua, thì đã cư xử bất công với nàng. Chàng đối xử với nàng như là người nô lệ chứ không như người bạn.

2/ Việc giáo dục con cái đòi hỏi sự kết hợp bền vững của cha mẹ. Nếu cha mẹ chia tay nhau, thì sẽ gây thiệt hại con cái.

3/ Tình bạn càng cao quý thì càng đòi hỏi sự vững bền. Thế nhưng giữa vợ chồng có một tình bạn sâu xa, bởi vì không chỉ kết hợp với nhau bằng thân xác mà còn chia sẻ với nhau tình yêu và cuộc sống. Vì thế hôn nhân đòi hỏi tính bất khả phân ly.

4/ Nếu để cho vợ chồng tự do lìa bỏ nhau, thì trong hôn nhân sẽ dễ nảy sinh bất hòa giữa vợ chồng; còn nếu không được phép ly dị, thì họ sẽ cố gắng tìm cách giải quyết những khó khăn.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu tuyên bố vì sao mà vào lúc nguyên thủy, Thiên Chúa đã dựng nên hôn nhân bất khả ly, thế rồi sau đó, ông Môsê cho phép ly dị bởi vì dân Do thái cứng đầu cứng cổ (Mc 10,5-9). Có ý kiến giải thích rằng sở dĩ ông Môsê cho phép ly dị là để tránh cho chồng không giết vợ. Giữa hai điều xấu, ta đành phải chấp nhận điều nào đỡ tệ hơn! Tuy nhiên, đây chỉ là một giả thuyết. Bản chất của tình yêu vợ chồng đòi hỏi sự chung thủy, một vợ một chồng.

Sự giao hợp vợ chồng có phải là tội lỗi không?

Vào thời thánh Tôma và trước đó nữa, có những người chủ trương rằng sự giao hợp vợ chồng là tội lỗi, và thậm chí họ lên án việc lấy vợ lấy chồng. Có lẽ vì muốn chống lại các thuyết ấy mà thánh Phaolô đã viết trong thư thứ nhất gửi các tín hữu Côrintô (1 Cr 7,28): “Nếu bạn cưới vợ, thì cũng chẳng có tội gì, và nếu người con gái lấy chồng thì cũng chẳng có tội gì”. Lấy vợ lấy chồng không phải là tội, bởi vì điều này nằm trong bản tính con người là duy trì sự tồn tại không những của cá nhân và còn của chủng loại. Việc giao hợp vợ chồng tự nó không phải là tội lỗi, tuy nhiên có thể trở thành xấu do mục tiêu lệch lạc hay vài hoàn cảnh khác, cũng tựa như việc ăn uống vậy.

Khi nào việc ăn uống trở nên xấu?

Con người cần phải ăn uống để nuôi sống thân xác. Các thức ăn tự nó là tốt, bởi vì do Thiên Chúa dựng nên. Tuy nhiên, một thức ăn, tuy tự nó là tốt, nhưng có thể trở thành xấu, khi có thiệt hại cho sức khỏe của người dùng. Vì thế trong việc ăn uống, con người không nên chỉ chiều theo bản năng nhưng còn phải sử dụng lý trí cân nhắc xem món ăn ấy có lợi hay có hại cho sự sống của mình. Trong Tân ước, chúng ta gặp thấy những đoạn văn tựa như: “Không phải cái gì lọt qua miệng làm cho con người trở nên ô uế” (Mt 15,11), hoặc đoạn văn sau đây của thánh Phaolô: “ Cái gì bán ngoài chợ, thì cứ ăn chứ đừng truy tầm vì lý do lương tâm (1 Cr 10,25), hoặc: “Tất cả những gì Thiên Chúa làm ra đều tốt và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình biết ơn” (1 Tm 4,4). Việc ăn uống tự nó không phải là điều xấu xa, miễn là tôn trọng trật tự của lý trí. Việc sử dụng tiền bạc của cải cũng vậy.

Thế nào là sử dụng tiền bạc theo trật tự lý trí?

Ta có thể tìm câu trả lời nơi thánh Phaolô. Người không lên án những người giàu, nhưng đề ra cho họ một tiêu chuẩn trong việc sử dụng của cải trong thư gửi Timôthê như sau: “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy, họ tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai, để được sự sống thật” (1 Tm 6,17-19).



[1] Tắc giả sẽ bàn rộng về các bí tích trong quyển Bốn.