Skip to content
Banner 10.2024
Ngôn ngữ

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles” của thánh Tôma Aquinô - Kỳ XXII

Văn phòng Học Viện
2025-12-27 09:35 UTC+7 190
Tác phẩm "ĐÀM ĐẠO VỀ SUMMA CONTRA GENTILES CỦA THÁNH TÔMA AQUINÔ", của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP., là lời giới thiệu và tóm tắt về bộ Summa Contra Gentiles – bộ tổng luận quan trọng nhưng ít được biết đến của thánh Tôma Aquinô. Học viện Thần học Đa Minh đã giới thiệu cuốn sách này trước đây. Tác giả và Học viện Thần học Đa Minh tiếp tục đăng nội dung của cuốn sách, theo từng kỳ tương ứng với các mục trong bố cục tác phẩm, nhằm phục vụ nhu cầu của độc giả được rộng rãi hơn.

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles”

của thánh Tôma Aquinô

(1225-1274)

*****

Mục 17. Các Bí Tích (phần 1)

Thánh Tôma bàn đến các Bí tích từ chương 56 đến chương 78, (nghĩa là 23 chương). Sau hai chương dẫn nhập bàn về sự cần thiết của các Bí tích và so sánh giữa các bí tích trong Cựu ước và Tân ước (chương 56-57), tác giả lần lượt rảo qua 7 Bí tích, trong đó bí tích Thánh Thể được dành nhiều chương hơn cả (chương 61-69).

Tại sao các Bí tích cần thiết cho ơn cứu độ?

Các Bí tích cần thiết để con người nhận lãnh ơn cứu độ của Chúa Giêsu. Sở dĩ Thiên Chúa thông ban ơn cứu độ qua các dấu chỉ hữu hình là vì những lý do sau đây:

1/ Thiên Chúa xếp đặt mọi sự phù hợp với bản tính của mỗi loài. Con người nắm bắt các thực tại thiêng liêng qua các dấu hiệu khả giác. Vì thế Thiên Chúa muốn ban các phương dược thiêng liêng cho con người qua các dấu chỉ khả giác.

2/ Các dụng cụ phải cân xứng với nguyên nhân đệ nhất của ơn cứu độ loài người. Nguyên nhân ấy là Ngôi Lời nhập thể chết trên thập giá. Vì thế thật là xứng hợp khi các phương tiện cứu độ đạt đến con người có phần giống với nguyên nhân, tức là ơn Chúa tác động dưới những dấu hiệu hữu hình.

3/ Con người đã rơi vào tội lỗi do việc gắn bó lệch lạc với những thực tại hữu hình. Để ta đừng nghĩa rằng các thực tại hữu hình là xấu tự bản chất, cho nên thật là thích hợp để các phương dược cứu độ được ban qua các thực tại hữu hình. Thực vậy các sự vật hữu hình tự bản chất là tốt bởi vì được Thiên Chúa tạo dựng; chúng mang lại tai họa cho loài người khi họ gắn bó với chúng cách lệch lạc; ngược lại, chúng trở thành dụng cụ cứu độ nếu con người biết sử dụng đúng đắn. Dù sao, chúng ta biết rằng các Bí tích chỉ là dụng cụ thông ban ơn cứu độ mà thôi; nguyên nhân chính của ơn cứu độ là Đức Kitô.

Các bí tích của Cựu ước và các bí tích của Tân ước khác nhau như thế nào?

Các bí tích có liên quan đến ơn cứu độ nhân loại. Trước khi Ngôi Lời nhập thể, ơn cứu độ chỉ là lời hứa. Ơn cứu độ được hoàn tất nhờ Ngôi Lời nhập thể và chết trên thập giá vì mọi người. Vì thế các bí tích trước khi Đức Kitô nhập thể mang tính cách của lời hứa nhắm đến ơn cứu độ sẽ được ban; còn các bí tích Tân ước, đi sau cuộc tử nạn của Kitô, thực sự ban ơn cứu độ.

Có bao nhiêu Bí tích?

Thánh Tôma kể ra 7 Bí tích. Nên biết là mãi đến công đồng Basileia (1431-1435) và Trentô (1545-1563), Hội Thánh công giáo mới buộc phải tin là chỉ có 7 Bí tích. Thánh Tôma giải thích số 7 bằng cách đối chiếu với đời sống tự nhiên.

Trong đời sống tự nhiên có ba điều cần thiết. 1/ Trước hết, cần phải được sinh ra thì mới bắt đầu hiện hữu; 2/ Kế đó cần phải tăng trưởng nhờ nhận được sức mạnh; 3/ Con người cũng cần đến lương thực bồi dưỡng để duy trì sự sinh ra và lớn lên. Ba điều này cần cho sự sống. 4/ Thế nhưng sự sống có thể bị ngăn cản bởi bệnh tật; vì thế cần phải chữa lành người bệnh.

Trong đời sống thiêng liêng, ta thấy cũng cần bốn điều tương tự: 1/ Sinh ra thiêng liêng nhờ bí tích Rửa tội; 2/ Tăng trưởng đến nhân đức hoàn thiện, nhờ bí tích Thêm sức; 3/ Lương thực thiêng liêng nhờ bí tích Thánh Thể; 4/ Chữa lành thiêng liêng nhờ bí tích Thống hối. 5/ Ngoài ra còn bí tích Xức dầu nhằm chữa lành linh hồn hoặc thân xác.

Năm Bí tích vừa rồi có liên quan đến tất cả mọi người. Ngoài ra, một vài người cũng có nhiệm vụ quảng bá và tổ chức đời sống tự nhiên; vì thế ta thấy hai chức năng: 1/ Cha mẹ có nhiệm vụ mang lại sự sống tự nhiên; 2/ Công quyền có nhiệm vụ cai quản đời sống cộng đồng, bảo đảm sự bình an. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy: 1/ Cần có những người quảng bá đời sống thiêng liêng theo nhiệm vụ tinh thần; điều này thuộc về bí tích Truyền chức. 2/ Có những người quảng bá và duy trì cả đời sống thiêng liêng lẫn đời sống tự nhiên; điều này thuộc về bí tích Hôn nhân, trong đó người nam và người nữ kết hợp với nhau để sinh sản và giáo dục con cái biết thờ phượng Thiên Chúa.

I. Bí tích Rửa tội

1/ Bí tích Rửa tội mang lại một sự tái sinh thiêng liêng

Khi sinh ra, con người mất đời sống thiêng liêng do tội nguyên tổ; những tội khác lại càng làm nó cách xa đời sống thiêng liêng hơn nữa. Vì thế con người cần đến bí tích rửa tội để được tái sinh thiêng liêng, tẩy xóa tội nguyên tổ cũng như tất cả các tội cá nhân.

Bởi vì dấu chỉ hữu hình cần phải xứng hợp để diễn tả hiệu quả thiêng liêng, và bởi vì việc xóa bỏ những vết nhơ vật chất thường được làm bằng nước, cho nên rất thích hợp khi bí tích Thánh tẩy được ban bằng nước đã được thánh hóa nhờ Lời của Chúa.

Bởi vì sự sinh ra một vật bao hàm sự hủy hoại của một vật khác, và sự sinh làm mất hình thái đã có trước đó cùng với những đặc tính kèm theo, cho nên nhờ bí tích Rửa tội, là một sự tái sinh thiêng liêng, không chỉ xóa bỏ các tội lỗi (là điều không thể tương hợp với đời sống thiêng liêng) mà cả những hình phạt nữa. Vì thế bí tích Rửa tội không chỉ rửa sạch tội lỗi mà cả mọi hình phạt bởi tội. Vì thế Hội Thánh không đòi người được rửa tôi phải làm việc đền tội nào.

2/ Bởi vì bí tích Rửa tội là một sự tái sinh thiêng liêng, cho nên những người được tái sinh thiêng liêng liền có khả năng lãnh nhận các chức vụ thiêng liêng khác, chẳng hạn như được lãnh các Bí tích khác, và lập tức trở thành nơi xứng hợp cho đời sống thiêng liêng, tức là hạnh phúc vĩnh cửu. Vì thế nếu những người được rửa tội mà chết ngay lập tức thì họ sẽ được đón nhận ngay vào hạnh phúc vĩnh cửu. Thánh Bêđa nói rằng “bí tích Rửa tội mở cửa trời ra”.

3/ Nên nhớ rằng mỗi người chỉ sinh ra một lần. Bí tích Rửa tội là một sự tái sinh thiêng liêng, cho nên mỗi người chỉ được rửa tội một lần mà thôi. Ngoài ra, cũng đã rõ là việc mắc tội nguyên tổ chỉ xảy một lần mà thôi. Vì thế bí tích Rửa tội, chủ ý nhắm tới tội nguyên tổ, không thể lặp lại lần nữa.

II. Bí tích Thêm sức

1/ Đây là bí tích của sự kiện toàn thiêng liêng. Sự kiện toàn sức mạnh thiêng liêng hệ tại tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người, và không tránh né vì sợ nhạo cười hoặc vì bất cứ sự sợ hãi nào. Bởi vì bí tích này ban sức mạnh thiêng liêng cho kẻ đã được tái sinh, cho nên phần nào đặt họ làm chiến sĩ đức tin của Đức Kitô.

2/ Bởi vì những kẻ chiến đấu dưới sự lãnh đạo của một Vua thì mang huy hiệu của ngài, cho nên những người lãnh bí tích Thêm sức được ghi dấu Đức Kitô, nghĩa là dấu thánh giá, nhờ đó Người đã chiến đấu và chiến thắng. Các tín hữu nhận dấu này ở trên trán, để ám chỉ rằng họ không được thẹn khi công khai tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô. Việc ghi dấu thánh giá kèm theo việc xức dầu chrisma, là chất pha trộn dầu với hương thơm. “Dầu” ám chỉ sức mạnh Thánh Linh, Đấng đã xức dầu như lời ngôn sứ Isaia được Chúa Giêsu trưng dẫn tại hội đường Nazaret: “Thần khí Chúa ngự xuống trên tôi, Ngài đã xức dầu cho tôi” (Lc 4,18). Các Kitô hữu được gọi là những người được xức dầu bởi vì họ thuộc về Đức Kitô, Đấng được xức dầu (x. Cv 11,26). “Hương thơm” muốn nói đến tiếng thơm mà các tín hữu cần có khi gặp gỡ người khác để công khai tuyên xưng đức tin.

3/ Vị chủ sự Bí tích Thêm sức là giám mục, (các linh mục là trường hợp ngoại lệ), bởi vì cũng như trong quân đội ngoài đời, các vị chỉ huy chọn lựa binh sĩ, thì các giám mục cũng tựa như những vị chỉ huy quân đội Chúa Kitô, có nhiệm vụ tuyển chọn và khích lệ các chiến sĩ của Người. Những người lãnh bí tích này được gia nhập đoàn quân thiêng liêng, vì thế họ được đặt tay lên đầu ra như nhận lãnh sức mạnh từ Chúa Kitô.

III. Bí tích Thánh Thể

A. Bản chất

Cũng như thân thể cần được nuôi dưỡng bằng lương thực, không chỉ để tăng trưởng mà còn để bổ dưỡng vì những tiêu hao sức lực, thì linh hồn cũng cần được nuôi dưỡng bằng lương thực thiêng liêng, nhờ đó các tín hữu có thể duy trì và tăng trưởng về nhân đức.

Các công hiệu thiêng liêng của bí tích được trình bày qua các dấu hiệu hữu hình, thì bí tích này mang hình thù của lương thực nuôi sống, đó là bánh và rượu, để diễn tả việc Chúa Giêsu ban chính mình làm lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng.

Bởi vì ơn cứu độ chúng ta được hoàn tất nhờ cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, khi máu tách rời khỏi thân thể, thì bí tích Thánh Thể được ban qua hai hình bánh và rượu, để tưởng nhớ và diễn tả cuộc khổ nạn của Chúa. Như vậy ứng nghiệm những lời của Chúa: “Thịt của ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống” (Ga 6,55).

B. Những vấn nạn và sai lầm

Sau khi nghe bài giảng về Thánh Thể, các môn đệ đã thốt lên: “Những lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60). Thật vậy, chung quanh bí tích này có rất nhiều vấn nạn và sai lầm, thánh Tôma chỉ ghi lại 5 điều.

1/ Thật là khó hiểu làm thế nào mà thân thể Chúa Kitô bắt đầu hiện diện trên bàn thờ. Một vật bắt đầu hiện diện theo hai cách: a) hoặc theo địa lý (trước đây ở chỗ khác, bây giờ được mang đến đây); b) hoặc do sự biến đổi (thí dụ lửa trước đây không có ở đây, bây giờ đốt củi thì củi biến ra lửa). Như vậy làm cách nào mà Chúa Giêsu hiện diện trên bàn thờ? Chắc chắn là không phải lúc nào cũng ở trên bàn thờ (bởi vì hiện thời thân xác Chúa Giêsu ở trên trời), và không thể nói rằng Người bỏ trời để xuống trên bàn thờ và ở nhiều nơi khác nhau (cách thứ nhất). Cũng không thể nói rằng có vật nào đó đã được biến thành thân thể Đức Kitô (cách thứ hai), bởi vì thân thể của Người đã hiện hữu rồi, không thể nào được biến đổi từ một vật khác.

Trả lời. Phải thú nhận rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm mà chúng ta không hiểu nổi. Điều mà lý trí có thể làm được là cho thấy rằng điều này không phải là phi lý.

- Không thể quan niệm theo cách thứ nhất (di chuyển địa lý), bởi vì không thể nào cứ mỗi lần cử hành bí tích thì Chúa Giêsu lại phải từ trời xuống bàn thờ, và chỉ có thể xuống ở một nơi mà thôi, chứ không thể đồng thời ở nhiều nơi khác nhau!

 - Như vậy, chỉ có thể theo cách thứ hai, nghĩa là bản thể bánh và rượu được biến đổi thành bản thể của Mình và Máu Chúa Giêsu. Như vậy, thật là sai lầm khi chủ trương rằng trong bí tích này bản thể của bánh cùng hiện hữu với bản thể của Mình Chúa Giêsu, bởi vì Chúa nói rằng “Này là Mình Thầy”, chứ không phải là “Có Mình Thầy ở đây”.

2/ Xem ra không thể nào thân thể Chúa Giêsu được chứa ở trong bí tích này

- Nếu Mình Chúa ở dưới hình bánh và Máu Chúa ở dưới hình rượu, thì Chúa Kitô không còn nguyên vẹn nữa, bởi vì cứ mỗi lần cử hành Thánh Thể, Máu Người lại bị tách rời khỏi Mình Người.

- Xem ra không thể nào một thân mình lớn lại có thể nén thành một thân mình nhỏ hơn; thân mình Chúa Kitô thì to lớn hơn là tấm bánh trên bàn thờ. Vì thế không thể nào tất cả thân mình Chúa ở trong tấm bánh được.

 - Không thể nào một thân thể duy nhất có thể ở nhiều nơi khác nhau. Thế mà Thánh Lễ được cử hành ở nhiều nơi, cho nên bí tích Thánh Thể không thể nào chứa thân thể Đức Kitô.

Trả lời. Do những lời “truyền phép”, dưới hình bánh là Mình Chúa Giêsu, thay cho bản thể của bánh; dưới hình rượu là Máu Chúa Giêsu thay cho bản thể của rượu. Tuy nhiên, sự hiện diện ấy mang tính đồng bộ: dưới hình bánh, có cả máu, linh hồn và thần tính của Đức Kitô; dưới hình rượu có cả mình, linh hồn và thần tính. Sở dĩ như vậy là vì Đức Kitô (ngoại trừ thời gian ở trong mộ) luôn sống với thân thể, máu, linh hồn và thần tính. Ngoài ra nên nhớ rằng mình và máu Đức Kitô theo kích thước riêng thì chỉ có một nơi mà thôi; trong bí tích Thánh Thể, mình và máu của Người hiện diện theo một cách thức khác.

3/ Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta thấy những phụ thể của bánh: màu sắc, hương vị, hình thù, trọng lượng của bánh. Những phụ thể này không thể nào tồn hữu trong thân thể Đức Kitô bởi vì chúng là phụ thể của bánh và của rượu chứ không phải là của cái gì khác; mặt khác, chúng không thể tồn hữu tự mình được, bởi vì bản tính của phụ thể là ở trong bản thể. Vì thế phải kết luận rằng trong bí tích Thánh Thể, các phụ thể của bánh và rượu vẫn tồn tại trong bánh và rượu; trong bí tích này chỉ có bản thể của bánh và rượu chứ không có bản thể của Đức Kitô, bởi vì không thể nào mường tượng được rằng có hai bản thể hiện hữu đồng thời (bánh và Mình thánh Chúa, rượu và Máu thánh Chúa).

Trả lời. Không thể nào phủ nhận rằng trong bí tích Thánh Thể, các phụ thể của bánh và rượu vẫn tồn tại; giác quan nhận thấy điều ấy. Tuy nhiên, không thể nói rằng các phụ thể của bánh và rượu được chuyển thành phụ thể của Mình và Máu Chúa; điều này sẽ làm thay đổi chính Chúa Giêsu. Ta phải kết luận rằng phụ thể của bánh và rượu tồn tại mà không có bản thể: điều này chỉ có thể xảy ra do quyền năng của Thiên Chúa. Không có gì ngăn cản quyền năng Thiên Chúa gây ra những công hiệu của các nguyên nhân đệ nhị mà không có nguyên nhân ấy.

4/ Sau khi “truyền phép”, bánh và rượu vẫn giữ y nguyên các đặc tính của chúng: uống nhiều rượu thì vẫn say; ăn nhiều bánh thì vẫn đầy bụng; nếu để lâu thì bánh và rượu sẽ hư. Nhưng mà đức tin dạy rằng thân thể Đức Kitô không thể đau đớn hư hoại nữa. Bởi vậy xem ra thân thể Đức Kitô không được chứa trong bánh.

Trả lời. Các phụ thể của bánh và rượu vẫn tồn tại trong bí tích Thánh Thể, nhưng bản thể của bánh và rượu không còn nữa, bởi vì dưới hình bánh rượu là bản thể của Mình và Máu Chúa. Cũng vậy, bản thể của bánh và rượu sẽ không trở lại sau khi các phụ thể của bánh và rượu đã bị phá huỷ, bởi vì bản thể của bánh và rượu không bao giờ hiện hữu mà không có phụ thể của mình; đàng khác sau khi phá hủy các hình bánh và rượu, thì đã nảy sinh ra một bản thể mới.

5/ Khi bẻ bánh Thánh Thể, ta không thể nói là bẻ thân thể Chúa Kitô; vì thế trong bí tích không có Mình Chúa mà chỉ có bản thể của bánh và rượu.

Trả lời. Trong bí tích này, do quyền năng Thiên Chúa, các phụ thể tồn tại mà không còn bản thể. Vì thế khi bẻ bánh là bẻ các chiều kích và chất lượng (nghĩa là phụ thể) của bánh chứ không phải là bẻ Mình Thánh Chúa.

C. Hai câu hỏi nữa

 Sau khi trả lời 5 vấn nạn liên quan đến sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, thánh Tôma còn đặt thêm hai câu hỏi nữa.

1/ Câu nói của Chúa Giêsu: “Những lời Thầy nói với anh em là thần khí và sự sống” (Ga 6,63) có nghĩa là gì?

Trả lời. Câu nói này không có nghĩa là trong bí tích này các tín hữu không thực sự ăn thịt của Chúa, nhưng Người muốn nói rằng không thể nào ăn bánh này theo kiểu xác thịt, giống như các thứ thịt khác, nhưng cần ăn theo cách thiêng liêng.

2/ Phải dùng bánh và rượu nào để cử hành Thánh Thể.

Trả lời. Rượu là chất lỏng ép từ trái nho. Bánh được làm từ hạt lúa mì. Vì thể không thể cử hành bí tích với bánh khác với bánh lúa mì và rượu khác với rượu nho. Nếu bánh rượu có bị biến thái mà không mất đi bản chất của chúng, thì bí tích vẫn thành sự. Có thể dùng bánh lên men hay bánh không lên men bởi vì men không ảnh hưởng đến bản chất của bánh. Việc cử hành bí tích với bánh không men thì thích hợp hơn, dựa theo lời theo lời khuyên của thánh Phaolô (1 Cr 5,7), cũng như dựa theo trình thuật của Tin Mừng nói về bữa tiệc Chúa Giêsu dùng với các môn đệ (x. Mt 26, 17), dựa theo quy luật của sách Đệ nhị luật (chương 12).

Chia sẻ