Skip to content
Banner 10.2024
Ngôn ngữ

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles” của thánh Tôma Aquinô - Kỳ XXIV

Văn phòng Học Viện
2025-12-31 09:42 UTC+7 96
Tác phẩm "ĐÀM ĐẠO VỀ SUMMA CONTRA GENTILES CỦA THÁNH TÔMA AQUINÔ", của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP., là lời giới thiệu và tóm tắt về bộ Summa Contra Gentiles – bộ tổng luận quan trọng nhưng ít được biết đến của thánh Tôma Aquinô. Học viện Thần học Đa Minh đã giới thiệu cuốn sách này trước đây. Tác giả và Học viện Thần học Đa Minh tiếp tục đăng nội dung của cuốn sách, theo từng kỳ tương ứng với các mục trong bố cục tác phẩm, nhằm phục vụ nhu cầu của độc giả được rộng rãi hơn.

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles”

của thánh Tôma Aquinô

(1225-1274)

*****

Mục 18. Cánh chung

Mục cuối cùng của tác phẩm Summa contra gentiles là cánh chung, được bàn từ chương 79 cho đến chương 97. Có nhiều cách để trình bày cánh chung. Nhiều tác giả dựa theo mô hình “tứ chung”, tức là bốn điều sau hết của mỗi người (chết, phán xét riêng, thiên đàng, địa ngục) và bốn điều sau hết của thế giới (quang lâm, thân xác phục sinh, phán xét chung, canh tân thế giới). Có tác giả dựa theo lịch sử cứu độ: Chúa Giêsu đã đến thế gian để thiết lập “vương quốc Thiên Chúa”, đặc biệt nhờ cuộc Tử nạn và Phục sinh; tuy nhiên vương quốc ấy mới chỉ là khởi đầu và sẽ hoàn tất vào lúc Quang Lâm.

Ở đây thánh Tôma theo một thứ tự khác. Khởi đi từ mầu nhiệm Nhập thể mà mục tiêu là ơn cứu độ nhân loại (x. Mục 16), được thông ban cho con người qua các bí tích (x. Mục 17). Ơn cứu độ không chỉ chuộc con người khỏi tội lỗi mà còn khỏi sự chết. Sự cánh chung được bàn theo viễn tượng công trình cứu độ của Đức Kitô.

Trước hết, tác giả bàn về sự phục sinh (chương 79) kèm theo các vấn nạn (chương 80-81); kế đó, tác giả bàn đến điều kiện của thân xác phục sinh (chương 82-90), rồi đến điều kiện của linh hồn sau khi chết (chương 91-95); hai chương cuối cùng (96-97) bàn về sự phán xét chung. Chúng tôi sẽ gom vào hai đề tài: 1/ Sự phục sinh. 2/ Phán xét chung thẩm.

I. Sự phục sinh

Như vừa nói trên đây, sau khi trình bày đức tin Công giáo, tác giả sẽ nêu lên các vấn nạn kèm theo giải đáp; kế đó là điều kiện của con người sau khi được sống lại.

A Đức tin Kitô giáo

1/ Chúng ta tuyên xưng rằng Đức Kitô đã cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi và cái chết, là những hậu quả của tội nguyên tổ, theo như lời thánh Phaolô: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người” (Rm 5,12). Thế nhưng, Đức Kitô đã cứu chúng ta khỏi hai sự dữ ấy: “Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính thì sẽ được sống và được thống trị” (Rm 5,17).

Đức Kitô đã muốn chết và sống lại.

Người muốn chết để thanh luyện chúng ta khỏi tội lỗi, như đọc thấy trong thư gửi Hip-ri: “Phận con người là chết một lần ... Cũng vậy Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xóa bỏ tội lỗi muôn người” (Hr 9,27-28);

Người muốn sống lại để giải thoát chúng ta khỏi cái chết: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại” (1 Cr 15,20-21).

Chúng ta được hưởng nhờ công hiệu cái chết của Đức Kitô, tức là sự tha thứ tội lỗi, nhờ các bí tích. Còn hiệu quả của sự sống lại của Đức Kitô, tức là sự giải thoát khỏi cái chết, thì chúng ta sẽ lãnh được vào tận thế, khi mà tất cả chúng ta sẽ được sống lại do quyền lực của Đức Kitô, Đấng đã phán: “Tôi là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25).

2/ Vì thế, dựa trên Lời Chúa, chúng ta tin rằng thân xác loài người sẽ sống lại. Tuy nhiên, điều này không dễ chấp nhận. Khi thánh Phaolô rao giảng Tin Mừng tại Athènes, thiên hạ chăm chú lắng nghe ông, nhưng khi nghe ông nói đến thân xác phục sinh, thì cử tọa đứng dậy bỏ ra về (Cv 17,12). Thánh tông đồ cũng gặp khó khăn tương tự nơi cộng đoàn Côrintô: họ không tin thân xác sẽ sống lại mà chỉ chấp nhận linh hồn bất tử, hoặc giải thích sự sống lại về phần linh hồn, nghĩa là sự tha thứ tội lỗi. Đó là lý do khiến thánh Phaolô dành tất cả chương 15 của thư thứ nhất để giải thích cho họ: “Cái thân xác phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt, và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1 Cr 15,53). Tin Mừng thánh Gioan cũng ghi lại những lời Chúa Giêsu nói đến sự sống lại thiêng liêng và sự sống lại thân xác. Về sự sống lại thiêng liêng: “Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến – và chính lúc này đây – giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống” (Ga 5,25). Về sự sống lại thân xác: “Giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con và sẽ ra khỏi đó” (Ga 5,28).

3/ Đức tin về thân xác sống lại dựa trên mặc khải; tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy điều này phù hợp với ước vọng của con người. Bản tính con người gồm bởi linh hồn và thân xác. Khi con người chết, linh hồn rời khỏi thân xác nhưng không chết. Tuy nhiên, linh hồn ước muốn kết hiệp với thân xác bởi vì cả hai hợp nên bản tính con người. Sự kết hợp này đòi hỏi thân xác phải được sống lại.

Mặt khác, con người ước ao được hạnh phúc; thế nhưng hạnh phúc chỉ được trọn vẹn khi toàn thể con người, gồm bởi linh hồn và thân xác, cùng được chung hưởng. Cách riêng, bởi vì khi sống trên đời, linh hồn và thân xác cùng nhau cộng tác trong sự tốt cũng như trong sự xấu, vì thế cũng muốn chia sẻ số phận, hoặc được thưởng hay bị phạt.

B. Những vấn nạn chống lại sự phục sinh

Sau khi đã nhắc lại niềm tin của Kitô giáo liên quan đến thân xác phục sinh, thánh Tôma trả lời cho bảy vấn nạn được nêu lên để chống lại điều đó. Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào vấn đề, thánh Tôma ghi nhận rằng việc thân xác được sống lại không phải là một đòi hỏi theo bản tính của thân xác. Thật vậy, linh hồn thiêng liêng cho nên bất tử theo bản tính; còn thân xác theo bản tính là phải chịu hủy hoại. Vì thế sự phục sinh thân xác là một ân huệ Chúa ban cho nhân loại. Khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã hứa ban ơn bất tử cho con người; tiếc rằng vì tội lỗi, con người đã làm mất ơn ấy. Bây giờ Thiên Chúa ban lại hồng ân như là hệ quả của công trình cứu chuộc của Đức Kitô, để cho thân xác cũng được bất tử như linh hồn. Tóm lại, đây là một ân huệ chứ không phải là một yêu sách.

Bây giờ chúng ta hãy điểm qua bảy vấn nạn kèm theo các lời giải đáp.

1/ Chúng ta chưa thấy có một thân xác nào trở về y nguyên như là trước khi bị hủy hoại. Thế nhưng khi con người chết thì thân xác bị phân rã từng mảnh vụn, vì thế thân xác không thể nào trở lại y nguyên như trước.

Trả lời. Việc trả lại sự sống cho một thân xác đã bị hủy hoại không phải là một công trình của tự nhiên mà là của Thiên Chúa, Đấng có thể làm tất cả mọi sự.

2/ Sau khi thân xác đã bị hủy diệt hoàn toàn, sự sống lại không phải là phục hồi cái đã có nhưng là một sự tạo dựng mới. Do đó, không thể nào một người sống lại hoàn toàn y như trước kia.

Trả lời. Không có gì trở về hư vô do cái chết. Linh hồn vẫn y như trước; thân xác chịu biến đổi sâu xa nhưng các yếu tố vật chất vẫn còn được duy trì trong sự hiện hữu. Vì thế thân xác con người có thể được phục hồi nhờ quyền năng vô cùng của Thiên Chúa.

3/ Điều gì thiếu liên tục thì không thể y nguyên về số lượng. Thế mà khi chết, con người đã mất hiện hữu của mình. Vì thế một người không thể nào có hiện hữu y nguyên như trước, bởi vậy sẽ không có sự đồng nhất của con người vào lúc sống lại.

Trả lời. Vấn nạn dựa trên nguyên tắc là một hữu thể cụ thể không thể đồng nhất nếu thiếu sự liên tục. Nhưng tiền đề này sai. Thực vậy, chất thể và mô thể họp thành một hữu thể duy nhất; chất thể không thực sự hiện hữu nếu không có mô thể. Thế mà linh hồn con người khác với các mô thể khác ở chỗ là: bản tính của các mô thể khác (chẳng hạn như hồn của thảo mộc chỉ hiện hữu khi kết hợp với chất thể bởi vì các mô thể ấy không vượt trên chất thể. Ngược lại, linh hồn con người vượt lên trên chất thể, bởi vì có những hoạt động (sự hiểu biết) không có sự tham dự của thân xác; vì thế linh hồn có thể hiện hữu độc lập khỏi thân xác. Do đó hữu thể linh hồn, trước đây là hữu thể của hợp thể con người (gồm bởi hồn xác) vẫn tồn tại trong linh hồn sau khi thân xác tan rã. Khi thân xác ấy được phục hồi nhờ sự phục sinh, thì nó lấy lại hữu thể đồng nhất vốn tồn tại nơi linh hồn.

4/ Nếu thân xác con người trở lại cuộc sống, thì cũng phải khôi phục lại cho cùng một con người ấy những gì đã có trong thân xác trước đây, chẳng hạn như tóc, móng tay, lông lá, vv. Quả thật là quái gở. Vì thế con người không nên sống lại sau khi chết.

Trả lời. Ngay khi còn sống trên đời, các thành phần không luôn luôn giữ y nguyên xét theo chất lượng, bởi vì chúng biến đổi, thêm bớt; thế mà con người vẫn duy trì được căn cước từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Một người trước sau vẫn là một, dù thay đổi tuổi tác và đôi khi cả hình dáng nữa: khi còn bé thì khác, lúc tráng niên thì khác. Vì thế để duy trì sự đồng nhất sau khi sống lại, không cần người đó phải lấy lại tất cả các chi tiết của thân xác đã có lúc còn sống. Nếu trước đây thân thể có thiếu thốn phần nào, thì quyền năng Thiên Chúa sẽ bù đắp.

5/ Có những dân tộc ăn thịt người, và nhờ thịt ấy mà họ sinh con cái. Như vậy, thân xác của người chết đã trở thành thân xác của nhiều người khác nhau, và không thể nào sống lại trong nhiều cá nhân khác nhau. Giả như có sống lại thì cũng chẳng còn nguyên vẹn. Vì thế không thể nào xảy ra sự phục sinh thân xác được.

Trả lời. Đức tin vào sự sống lại không gặp khó khăn gì do chuyện có những kẻ ăn thịt người. Thật vậy, không cần phải sống lại trong mỗi người tất cả những yếu tố vật chất đã có trước đây; thân xác đã được ăn sẽ sống lại nơi xác con người đầu tiên được linh hồn phú vào. Dù sao, đừng quên rằng quyền năng Thiên Chúa có thể bù đắp tất cả.

6/ Điều gì chung cho các cá nhân thuộc cùng một loài là điều tự nhiên đối với loài ấy. Nhưng sự sống lại không phải là điều tự nhiên, bởi vì không có sức lực tự nhiên nào có thể thực hiện được. Vì thế phải loại bỏ ý kiến về sự sống lại của toàn thể nhân loại.

Trả lời. Sự sống lại là điều tự nhiên (hợp với bản tính) bởi vì sự kết hợp giữa linh hồn và thân xác là điều tự nhiên. Tuy nhiên nó không phải là tự nhiên nếu xét theo nguyên nhân tác thành, bởi vì nó không do tự nhiên gây nên, nhưng là công trình của Thiên Chúa mà thôi.

7/ Nếu chúng ta được Chúa Kitô giải thoát khỏi tội lỗi và cái chết, thì duy chỉ những ai được giải thoát khỏi tội lỗi thì mới giải thoát khỏi cái chết, nghĩa là sống lại. Do đó sự sống lại chỉ được dành cho một số người chứ không phải cho hết tất cả mọi người.

Trả lời. Con Thiên Chúa nhận lấy bản tính con người để chữa lành cho nó. Vì thế những gì thiếu sót thuộc bản tính thì sẽ được sửa chữa cho tất cả mọi người. Do đó tất cả mọi người sẽ được sống lại từ cõi chết: những ai được tha thứ tội lỗi sẽ sống lại trong vinh quang, những ai khước từ ơn tha thứ sẽ sống lại trong ô nhục.

C. Sự phục sinh thân xác

Những người được phục sinh sẽ không chết nữa, phải không? Tại sao vậy?

Thánh Tôma đưa ra 5 lý lẽ.

1/ Sự chết là một khuyết điểm xảy đến cho bản tính con người do tội lỗi. Chúa Kitô, nhờ công trạng của cái chết của mình, đã sửa chữa những khuyết điểm phát sinh bởi tội lỗi, như thánh Phaolô nói: “Sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người” (Rm 5,15). Công trạng của Đức Kitô khi tiêu diệt sự chết thì còn lớn hơn tội của ông Ađam khi du nhập nó. Vì thế những người được sống lại nhờ cái chết của Đức Kitô thì sẽ không còn phải chết nữa.

2/ Giả như những người được sống lại mà còn phải chết thì không thể nói rằng Đức Kitô đã tiêu diệt sự chết. Nhưng sự chết đã bị Đức Kitô tiêu diệt, như thánh Phaolô nói: “Kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là cái chết” (1 Cr 15,26). Vì thế, đức tin Kitô giáo khẳng định rằng những người được sống lại sẽ không bao giờ chết nữa.

3/ Hiệu quả phải giống với nguyên nhân. Thế mà nguyên nhân sự sống lại của chúng ta là sự sống lại của Đức Kitô. Do đó nếu Đức Kitô sống lại mà không còn chết nữa, như thánh Phaolô quả quyết (Rm 6,9) thì những người sống lại sẽ không phải chết nữa.

4/ Giả như người chết, sau khi sống lại, mà phải chết thì thử hỏi tại lý do gì? Sự sống lại sẽ trở thành vô nghĩa. Nhưng Thiên Chúa là Đấng Khôn ngoan hằng hữu, không thể làm những chuyện vô nghĩa. Vì thế những người sống lại sẽ không phải chết nữa.

5/ Sự sống lại không nhằm bảo tồn dòng dõi loài người; để được mục tiêu ấy thì đã có sự sinh sản. Sự sống cũng không nhằm bảo tồn linh hồn, bởi vì linh hồn vốn đã bất tử rồi. Sự sống lại nhằm bảo tồn thân xác ngõ hầu bảo đảm cho linh hồn bất tử được cái làm cho bản tính con người được hoàn bị.

Sau cùng, chính mặc khải củng cố cho lý trí. Sách Khải huyền nói rằng: “cái chết sẽ không còn nữa” (21,4).

Thân xác sống lại sẽ còn ăn uống nữa không? Có còn ái ân vợ chồng nữa không?

Lương thực cần để bồi dưỡng thân thể bị suy giảm năng lực; đời sống của những người sống lại sẽ không còn bị suy thoái cho nên không cần ăn uống nữa. Việc lấy vợ lấy chồng cần để sinh sản và duy trì dòng dõi loài người; điều này sẽ không cần thiết sau khi con người sống lại. Mặt khác, trên đời việc ăn uống và ái ân vợ chồng mang lại một sự vui thích; nhưng ở đời sau, con người không cần những vui thú ấy nữa, bởi vì hạnh phúc vĩnh cửu đã làm thỏa mãn mọi ước mong.

Thân xác phục sinh có còn là thân xác nữa không, hay là sẽ trở thành “thiêng liêng”, như thánh Phaolô đã viết: “Gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,44)?

Thân xác sống lại của chúng ta sẽ giống như thân xác của Đức Kitô phục sinh, như lời thánh Phaolô: “Người sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21). Thân xác chúng ta sẽ vẫn là thân xác chứ không trở thành “thiêng liêng” giống như linh hồn; bởi vì nếu như vậy thì sẽ làm biến thể bản tính con người, gồm bởi linh hồn và thân xác chứ không phải là loài thuần thiêng như các thiên thần. Mặt khác, thân xác phục sinh sẽ được biến đổi chứ không giống như điều kiện hiện tại. Thánh Phaolô viết rằng: “Thân xác phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt, và cái thân xác phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1 Cr 15,53). Nên biết là thánh Phaolô đã đưa ra bốn sự đối chọi giữa điều kiện hiện nay và điều kiện tương lai của thân xác: “Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cr 15, 42-44). Thú thật là không dễ gì mà mường tượng những đặc tính của thân xác phục sinh, cũng như các môn đệ khó lòng nhận ra Chúa Giêsu phục sinh: Người có thân thể, nhưng không hoàn toàn giống như khi còn sống giữa các ông. Điều chắc là thân xác ấy cần được biến đổi để có thể chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa cũng như thân xác ấy sẽ hoàn toàn suy phục sự điều khiển của linh hồn. Kinh Thánh còn nói đến thân xác ấy sẽ ở trên thiêng đàng; dĩ nhiên cần phải thích nghi thân xác ấy cho hợp với “môi trường mới” khác với hoàn cảnh đang sống trên đời này. Dù sao, chúng ta đang bàn đến thân xác của những người lành: họ sẽ được chia sẻ những đặc tính giống như thân xác phục sinh của Chúa Kitô. Còn thân xác của những người dữ thì sao? Kinh Thánh dùng nhiều từ ngữ mà chắc chắn là ta không thể hiểu theo nghĩa đen, chẳng hạn như bị “lửa thiêu đốt đời đời” (Mt 25,41), bị “dòi bọ rúc rỉa” (x. Is 66,24), “khóc lóc nghiến răng” (x. Mt 8,12). Lý do là tại vì sau khi sống lại, thân xác (kể cả những người dữ) sẽ được biến đổi chứ không giống như tình trạng hiện nay nữa. Thân xác ấy cũng bất diệt bất tử như thánh Phaolô đã nói (1 Cr 15,53).

D. Tình trạng của linh hồn sau khi chết

Trên đây, chúng ta bàn đến sự phục sinh thân xác. Điều này sẽ xảy ra vào tận thế khi Chúa quang lâm. Trong 5 chương (91-95) thánh Tôma còn nói thêm về điều kiện của linh hồn con người sau khi chết.

1/ Theo đức tin của Hội Thánh, liền sau khi chết, con người sẽ được thưởng hay bị phạt; chủ thể là linh hồn bất tử, theo lời thánh Phaolô: “Tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu” (2Cr 5,10). Phần thưởng hay hình phạt được dành cho linh hồn trước thân xác bởi vì những hành vi công hoặc tội là do ý chí tự do. Vì thế phần thưởng và hình phạt bắt nguồn từ linh hồn sang thân xác, chứ không bắt nguồn từ thân xác sang linh hồn; không cần phải chờ đến khi linh hồn và thân xác kết hợp với nhau rồi mới được thưởng hay bị phạt.

2/ Linh hồn của người ngay lành có thể chưa được hưởng nhan Thiên Chúa ngay lập tức bởi vì còn một vài ngăn trở cần phải cất đi. Đó là lý do của việc thanh luyện sau khi chết, trước khi linh hồn được phần thưởng vĩnh viễn. Sự thanh luyện này được thực hiện bằng những hình phạt đau đớn hoặc bằng lời cầu nguyện của Hội Thánh, là một tục lệ đã có từ lâu đời. Hội Thánh cầu cho những người đã qua đời: dĩ nhiên là không cầu nguyện cho những linh hồn đã hưởng vinh quang thiên quốc cũng không cầu nguyện cho những linh hồn đã xuống địa ngục, mà chỉ cầu cho những linh hồn còn đang phải chịu thanh luyện.

3/ Sau cùng, cũng nên biết là sau khi chết, linh hồn sẽ không còn thay đổi ý muốn nữa, nghĩa là bền chí hoặc trong điều tốt hoặc trong điều xấu. Lý do vì bao lâu còn ở trên đời này, chúng ta chưa thấy tỏ tường Thiên Chúa là cùng đích của đời ta, cho nên ta còn bị lôi cuốn theo nhiều đối tượng khác nhau. Nhưng một khi đã thấy được Thiên Chúa là hạnh phúc đích thực, thì không thể nào rời bỏ Ngài nữa. Đối lại, các linh hồn đã bị luận phạt thì không thể nào trở lại, bởi vì để trở lại, ta cần có ân sủng. Tiếc rằng họ không còn nhận được ân sủng để thực hiện điều ấy.

Mặt khác, các linh hồn đang được thanh luyện, tuy chưa được chiêm ngắm nhan Chúa, nhưng họ vẫn sống trong đức ái lúc lìa đời cho nên họ được kết hợp với Chúa là cứu cánh rồi. Dù sao, ta đừng nên quan niệm luyện ngục như là hỏa ngục tạm thời, nhưng đúng hơn, luyện ngục là tiền đường của thiên đàng, nơi là lòng khao khát được hạnh phúc cũng đã là nỗi khổ cho họ: càng tiến gần tới bao nhiêu, lòng ta càng nôn nao bấy nhiêu.

II. Phán xét chung thẩm

1/ Đối với con người, như đã nói trên đây, phần thưởng hay hình phạt đã được quyết định sau khi linh hồn lìa bỏ đời này. Tuy nhiên, cần có lần phán xét chung, dành cho tất cả con người (gồm cả linh hồn và thân xác đã kết hợp với nhau) và toàn thể nhân loại sau khi mọi người đã được sống lại. Nói cho đúng, Tân ước nói về phán xét chung thẩm và phổ quát nhiều hơn là phán xét cá nhân, chẳng hạn như đoạn văn Tin Mừng Matthêu 25,31-46; 1 Tx 4,15-17; 1 Cr 15, 52[1].

2/ Sau cuộc chung thẩm, không chỉ con người (cả linh hồn và thân xác) được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, mà cả vũ trụ cũng được chia sẻ điều kiện bất hư hoại, như thánh Phaolô nói ở Rm 8,19-21). Con người mới đòi hỏi “môi trường mới” để sinh sống. Tân ước nói đến “trời mới đất mới” nơi công lý ngự trị (2 Pr 3,13; Kh 21,1) hoặc “tạo dựng mới” khi mà ơn cứu chuộc của Đức Kitô đã “hòa giải” vạn vật (Ep 1,10; Cl 1,20) và giữ vị trí làm đầu (1 Cr 15,22-28).

Thánh Tôma bình luận như sau: “Vương quốc Đức Kitô tiến triển dần dần xét theo việc tỏ lộ, ‘cho đến khi mọi kẻ thù được đặt dưới chân Người’, nghĩa là cho đến khi tất cả mọi thù địch đều tuyên xưng rằng Người hiển trị: những người lành với niềm vui hạnh phúc, những người dữ thì hổ thẹn; và rồi Người không hiển trị nữa, nghĩa là vương quốc của Người không tiến triển và không tỏ hiện hơn nữa, bởi vì đã được bày tỏ viên mãn rồi”.


 

KẾT LUẬN

Chúng ta đã rảo qua một vòng tác phẩm Summa contra gentiles. Như đã nói trong bài dẫn nhập, một truyền thuyết cho rằng thánh Tôma đã biên soạn cuốn sách này theo lời yêu cẩu của thánh Raymunđô Peñafort, để giúp các anh em Đa Minh đi truyền giáo ở các vùng theo đạo Islam. Như vậy tác phẩm mang tính cách hộ giáo, và mang tựa đề “Tổng luận chống dân ngoại”. Tuy nhiên sau khi đã đọc tác phẩm, ta thấy thánh Tôma không nghĩ đến việc chống dân ngoại, lại càng không chống đạo Islam! Vì thế chúng tôi thích một tựa đề thứ hai hơn: Liber de veritate catholicae fidei contra errores infidelium (Sách bàn về chân lý đức tin công giáo chống lại những sai lầm của những người ngoại đạo). Đây là một tác phẩm “thần học” theo nghĩa nguyên thủy của nó, đó là: “nói về Thiên Chúa” (theos-logos: sermo de Deo). Thiên Chúa nào?

Tác phẩm gồm bốn quyển, nhưng có thể chia làm hai phần chính: phần thứ nhất (ba quyển đầu) nói đến Thiên Chúa mà lý trí có thể khám phá được; phần thứ hai, trình bày Thiên Chúa được biết qua mặc khải Kitô giáo. Phần thứ hai gồm những chân lý vượt quá khả năng hiểu biết của lý trí, nhưng lý trí có thể suy ra những “lý lẽ thích hợp”.

Xét về nội dung, ta thấy tác phẩm này ngắn hơn với bộ Tổng luận thần học[2], cách riêng bởi vì thiếu phần luân lý. Tuy nhiên, dưới một khía cạnh khác, ta thấy tác phẩm này cô đọng hơn về một chủ đề, đó là “nói về Thiên Chúa”. Thiên Chúa nào?

Trong phần thứ nhất (ba quyển đầu) ta thấy rõ ba khía cạnh: 1/ Thiên Chúa tự tại; 2/ Thiên Chúa nguyên nhân tác thành muôn vật (tạo dựng); 3/ Thiên Chúa nguyên nhân cứu cánh của mọi vật (hạnh phúc). Nói cách khác, mọi vật bắt nguồn từ Thiên Chúa (exitus) và trở về với Thiên Chúa (reditus).

Mô hình này (exitus – reditus) cũng có thể gặp thấy trong phần thứ hai (quyển bốn): 1/ Thiên Chúa ba ngôi (tự tại); 2/ Thiên Chúa tái tạo (nhập thể và bí tích); 3/ Thiên Chúa cùng đích của muôn vật (cánh chung).

Tóm lại, Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ không phải là một Hữu thể bất biến xa vời, mà là Đấng cứu độ nhân loại. Ngài dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài và mời gọi chúng ta trở về với Ngài, bởi vì duy chỉ nơi Ngài chúng ta mới tìm thấy Hạnh phúc đích thực. Đó là Thiên Chúa mà chúng ta được mời gọi làm chứng nhân.

 

Gò Vấp ngày 07 tháng 01, năm 2025

Kỷ niệm 750 năm thánh Raymonđô Peñafort tạ thế

(06-01-1275)



[1] Xem Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 1021.

[2] Về cấu trúc của bộ sách này, xc. Bernard McGinn, Lược sử Tổng luận Thần học, Học viện Đa Minh 2023, trang 92-96.

Chia sẻ