Skip to content
Banner 10.2024
Ngôn ngữ

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles” của thánh Tôma Aquinô - Kỳ XXIII

Văn phòng Học Viện
2025-12-29 09:39 UTC+7 153
Tác phẩm "ĐÀM ĐẠO VỀ SUMMA CONTRA GENTILES CỦA THÁNH TÔMA AQUINÔ", của Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP., là lời giới thiệu và tóm tắt về bộ Summa Contra Gentiles – bộ tổng luận quan trọng nhưng ít được biết đến của thánh Tôma Aquinô. Học viện Thần học Đa Minh đã giới thiệu cuốn sách này trước đây. Tác giả và Học viện Thần học Đa Minh tiếp tục đăng nội dung của cuốn sách, theo từng kỳ tương ứng với các mục trong bố cục tác phẩm, nhằm phục vụ nhu cầu của độc giả được rộng rãi hơn.

Đàm đạo về “Summa Contra Gentiles”

của thánh Tôma Aquinô

(1225-1274)

*****

Mục 17. Các Bí tích (phần 2)

IV. Bí tích Tha tội

Thánh Tôma nêu lên ba câu hỏi liên quan đến việc thiết lập bí tích: 1/ Tại sao Chúa Giêsu thiết lập bí tích Tha tội? 2/ Kẻ đã phạm tội có thể trở lại nhờ ơn thánh không? 3/ Sự cần thiết của bí tích.

Tại sao Chúa Giêsu thiết lập bí tích để tha thứ những tội đã phạm sau khi lãnh bí tích Rửa tội? Tại sao bí tích Rửa tội không làm cho con người trở nên bất khả phạm tội?

Thánh Tôma đưa ra 5 lý do:

1/ Không ai ngăn cản một người có năng khiếu nào lại hành động ngược với năng khiếu đó. Thí dụ một nghệ sĩ biết đánh đàn thì có thể đánh đàn theo những quy luật của nó hay làm ngược lại. Ai có nhân đức công bình thì vẫn có thể hành động phù hợp hoặc trái nghịch với nhân đức ấy. Lý do là vì con người có tự do, cho nên có thể hoặc theo ân sủng Chúa đã ban, hoặc làm trái ngược lại và mất ân sủng.

2/ Ý chí con người chỉ trở nên không-thể-thay-đổi (và không thể phạm tội) khi được tràn ngập điều thiện hảo tối cao, tức là Thiên Chúa. Tuy nhiên, đó là tình trạng mà con người sẽ đạt được trên thiêng đàng khi được hưởng kiến Thiên Chúa. Bao lâu còn sống trong điều kiện lữ hành, con người, dù được ân sủng hỗ trợ, vẫn có thể phạm tội.

3/ Một cách tương tự như vậy, khi sống trên đời, con người vẫn còn ở trong điều kiện lầm lẫn dốt nát, cho nên vẫn có thể phạm tội mặc dù đã được ân sủng. Chỉ khi nào trí tuệ con người được chiêm ngắm Chân Lý là Thiên Chúa thì mới thoát được sai lầm và ngu dốt.

4/ Con người có nhân đức thì biết dùng lý trí để điều khiển các dục vọng; còn khi chiều theo dục vọng thì phạm tội. Thế nhưng con người vẫn có thể điều khiển hoặc chiều theo dục vọng bao lâu linh hồn còn ở trong một thân xác mang giác cảm. Vì thế ơn bí tích không khiến cho con người mất khả năng phạm tội.

5/ Lời Chúa vẫn thường nhắc nhở các tín hữu đã được rửa tội và lãnh các bí tích thì hãy giữ mình khỏi phạm tội. Điều này cho thấy rằng ân sủng nhận được khi lãnh bí tích sẽ không làm cho con người không thể phạm tội được nữa. Chúng ta cũng có thể hiểu câu nói của thánh Gioan tông đồ theo nghĩa ấy: “Ai ở trong Người thì không phạm tội; phàm ai phạm tội thì không thấy Người cũng chẳng biết Người” (1 Ga 3,6). Tác giả muốn nói rằng các ân huệ khiến cho con người được tái sinh làm con cái Thiên Chúa tự nó có sức gìn giữ con người khỏi phạm tội; tuy nhiên con người vẫn có thể hành động ngược lại.

Kẻ đã phạm tội có thể trở lại được không?

Chắc chắn là được, nhờ ơn Chúa. Thật vậy, bao lâu còn trên đường lữ hành, ý chí con người vẫn còn có thể thay đổi, hoặc sa ngã phạm tội sau khi đã nhận được ân sủng, hoặc trở về đường ngay chính sau khi đã phạm tội. Chúng ta tin rằng điều tốt thì mạnh hơn điều xấu, bởi vì điều xấu là thiếu điều tốt.

Trên đây, chúng ta đã nói rằng ơn thánh không làm cho con người trở nên không thể nào phạm tội được nữa. Ngược lại, Kinh Thánh có rất nhiều đoạn kêu gọi người tội lỗi hãy trở về đường ngay nẻo chính. Thí dụ như 1 Ga 2,1-2: “Các con thân mến, cha viết cho các con những điều này để các con đừng phạm tội; nhưng nếu có ai đã phạm, thì chúng ta có một Trạng sư trước mặt Chúa Cha: Đức Giêsu Kitô Đấng Công chính; Người là của lễ đền tội cho chúng ta”. Dĩ nhiên, tác giả viết những điều này cho những người đã được rửa tội rồi.

Phái Novaxianô trưng dẫn câu văn trích từ thư Hipri (6,4-6) để khẳng định rằng ai đã phạm tội sau khi đã rửa tội thì không thể tha thứ được nữa: “Quả thật, những kẻ đã một lần được chiếu sáng, đã được nếm thử ân huệ bởi trời, đã được thông chia Thánh Thần, đã được thưởng thức Lời tốt đẹp của Thiên Chúa và được cảm nghiệm những sức mạnh của thế giới tương lai, những kẻ ấy mà sa ngã, thì không thể được đổi mới một lần nữa để sám hối ăn năn, vì họ đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa và đã công khai sỉ nhục Người”. Nhưng thánh Tôma giải thích như thế này: Cũng như Đức Kitô không thể chịu đóng đinh một lần nữa, thì ai phạm tội sau khi đã lãnh bí tích Thánh tẩy thì không thể được rửa tội một lần nữa. Tuy nhiên, “không thể được rửa tội lại” thì không đồng nghĩa với “không thể nào trở lại” được.

Bí tích này có cần thiết không?

Như vừa nói, nếu sau khi đã rửa tội mà ta phạm tội thì không thể rửa tội lại, nhưng lòng Chúa khoan nhân đã thiết lập một phương dược khác để tha thứ tội lỗi. Phương được ấy là bí tích Tha tội, là một thứ chữa lành thiêng liêng. Cũng như trong đời sống tự nhiên, sau khi đã sinh ra mà mắc bệnh thì không thể nào chữa lành bằng cách sinh lại lần nữa nhưng bằng cách chữa lành cơ quan bị bệnh, thì trong đời sống thiêng liêng, sau khi đã được rửa tội thì không thể lãnh bí tích tái sinh lần thứ hai, nhưng qua việc chữa lành thiêng liêng.

1/ Nên ghi nhận là việc chữa lành thân xác xảy ra có khi bên trong cơ thể do sức mạnh tự nhiên, có khi vừa bên trong cơ thể vừa bên ngoài do việc dùng thuốc. Tuy nhiên, việc chữa lành không thể nào xảy ra hoàn toàn do bên ngoài (thuốc thang) mà không có sức mạnh bên trong.

Trái lại việc chữa lành thiêng liêng không thể xảy ra hoàn toàn ở bên trong bởi vì con người không thể nào được giải thoát khỏi tội lỗi mà không có ơn Chúa giúp. Mặt khác, việc chữa lành thiêng liêng không thể nào xảy ra hoàn toàn bên ngoài (nghĩa là nhờ ơn Chúa) mà không có hành động bên trong tức là hành vi của ý chí.

Do đó trong việc chữa lành thiêng liêng, cần có hai yếu tố: bên trong và bên ngoài. Việc ấy diễn tiến như sau. Cũng tương tự như trong việc chữa lành thân xác, điều đầu tiên là phải tháo gỡ những gì gây ra bệnh tật, thì trong việc chữa trị thiêng liêng, trước hết con người cần được tháo gỡ khỏi những xáo trộn do tội lỗi gây ra. Để được như vậy, con người phải trở về với Thiên Chúa, từ bỏ tội lỗi, và đau đớn vì điều xấu đã làm và dốc quyết không tái phạm nữa. Đó là phần thứ nhất.

Thế nhưng việc tái lập trật tự trong linh hồn không thể nào thực hiện nếu không có ơn thánh, nhờ đó chúng ta nhận được lòng yêu mến và gắn bó với Thiên Chúa; đồng thời chúng ta cũng gắn bó với Đức Kitô là Đấng Trung gian mang lại ơn tha thứ cho nhân loại (x. Ga 1,29).

2/ Dù sao, không phải tất cả mọi người đều nhận được hồng ơn tha thứ như nhau. Trong bí tích Rửa tội, sự tha thứ tội lỗi được thực hiện do quyền năng của Đức Kitô, Đấng liên kết chúng ta chặt chẽ với Người đến nỗi xóa bỏ không chỉ sự dơ bẩn của tội lỗi mà cả hình phạt nữa. Trong bí tích Tha tội, chúng ta kết hiệp với Đức Kitô bằng hành động của chúng ta với sự trợ lực của ơn thánh, vì thế chúng ta không luôn luôn đạt đến hoàn toàn công hiệu tha thứ. Thực vậy việc trở về với Thiên Chúa có thể mãnh liệt đến nỗi ta được tha thứ các tội lỗi và cả hình phạt nữa. Thế nhưng điều này không luôn xảy ra. Vì thế tuy hình phạt vĩnh cửu đã được tha thứ, nhưng ta vẫn còn phải đền các hình phạt để sửa chữa sự xáo trộn mà tội đã gây ra.

Ngoài ra để lĩnh hình phạt thì cần có sự xét xử. Bởi vậy hối nhân để xin Chúa tha lỗi cũng cần chờ Người xét xử để ấn định hình phạt qua các tác viên của Người. Tuy nhiên, không ai có thể xét xử nếu không biết tội lỗi. Bởi vậy cần có sự xưng thú, ngõ hầu tác viên của Chúa biết được lỗi phạm của hối nhân. Để có thể xét xử, tác viên cần lãnh quyền xét xử do Chúa ban và quyền tha tội. Hai năng quyền này quen được gọi là “hai chìa khóa của Hội Thánh” được trao cho thánh Phêrô (x. Mt 16,19), tức là sự hiểu biết để phân định và quyền hành để tháo cởi và trói buộc. Năng quyền này không chỉ hiểu về năng quyền được trao riêng cho ông sử dụng, nhưng phải hiểu rằng từ ông Phêrô quyền ấy phải được sử dụng thế nào để mọi người có thể hưởng nhờ ơn tha thứ do công trạng của cuộc thương khó của Đức Kitô.

Nên biết là cũng như con người cần lãnh bí tích Rửa tội để được tha thứ; việc lãnh nhận bí tích này có thể là thực sự hoặc do lòng ước ao và dốc lòng. Một cách tương tự như vậy, để được lãnh ơn tha thứ các tội đã phạm sau khi rửa tội, các hối nhân có thể xưng tội một cách thực sự hoặc là dốc lòng xưng tội khi có thể được. Khi thực tình thống hối và sẵn sàng đi xưng tội thì hối nhân đã lãnh được ơn tha thứ rồi; tuy nhiên ơn thánh và sự tha thứ sẽ được hoàn hảo hơn khi hối nhân thực sự đi xưng tội và lãnh ơn xá giải từ linh mục.

3/ Mặc dù các tội lỗi đã được tha thứ nhờ bí tích, nhưng trong linh hồn của hối nhân vẫn còn mang thương tích của sự rối loạn do sự phạm tội. Vì lý do ấy, linh mục ra việc đền tội để giúp cho linh hồn được thêm vững mạnh, qua việc tránh làm điều xấu và thực hành nhân đức. Bởi vậy việc đền tội có thể là khổ chế phần xác, nhằm bắt thân xác suy phục tinh thần; hoặc là làm việc bác ái, nhằm liên kết với tha nhân mà tội lỗi đã làm ta xa cách.

V. Bí tích Xức dầu bệnh nhân

Tại sao có bí tích Xức dầu bệnh nhân?

Vì thân xác là dụng cụ của linh hồn, và dụng cụ phải phục vụ nguyên nhân chính, cho nên thân xác cần có những điều kiện cần thiết để linh hồn hoạt động. Thế nhưng, do sự yếu đuối của linh hồn, nghĩa là do tội lỗi, mà đôi khi trong chương trình của Thiên Chúa, phát sinh một suy yếu thể xác. Đôi khi sự suy yếu thể xác, tức là bệnh tật, có thể giúp ích cho linh hồn, khi ta chấp nhận bệnh tật với lòng khiêm tốn và nhẫn nhục. Lúc ấy, bệnh tật có thể có giá trị như hình phạt đền tội. Thế nhưng lúc khác, bệnh tật ngăn cản việc thực hành nhân đức, vì thế thật là xứng hợp khi áp dụng một phương thuốc thiêng liêng, xét vì tội lỗi là cơ hội của bệnh tật thân xác khi bệnh tật làm ngăn trở công trình cứu độ. Do đó bí tích Xức dầu nhắm đến chữa trị tội lỗi là nguồn gốc của bệnh tật phần xác. Thánh Giacôbê đã viết: “Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,14-15).

Nhưng đâu phải tất cả những người lãnh bí tích Xức dầu đều được lành bệnh?

Không phải tất cả những ai lãnh nhận bí tích xức dầu để được lành mạnh phần xác, và thậm chí chưa hẳn lành mạnh phần hồn nữa. Ắt hẳn lý do không phải tại vì họ lãnh bí tích cách bất xứng, nhưng có lẽ do một lý do nào huyền nhiệm nào mà chỉ có Chúa biết. Phải chăng vì thế bí tích này chẳng có ích lợi chi? Không phải thế. Theo lời thánh Giacôbê tông đồ, trước hết chúng ta nên nghĩ đến các hiệu quả thiêng liêng trước khi nghĩ đến các hiệu quả thân xác. Bí tích này không hẳn chỉ nhằm chữa trị bệnh tật, nhưng còn nhắm chữa trị các vết tích tội lỗi (“được Chúa thứ tha”). Đành rằng tội lỗi được tha thứ nhờ bí tích Tha tội, nhưng tội còn để lại vài thương tích trong linh hồn, đó là sự hướng chiều về điều xấu và sự khó khăn làm điều tốt. Hai điều ấy tạo thành “bệnh tật thiêng liêng” trong linh hồn. Bí tích Xức dầu bổ túc cho bí tích Tha tội ở hai điểm ấy, nhằm giúp con người được chữa lành khỏi những bệnh tật thiêng liêng cũng như những hình phạt thế tạm, khiến cho con người sẵn sàng tiến vào vinh quang thiên quốc. Câu nói của thánh Giacôbê “Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy” có thể hiểu theo hai nghĩa: được nâng dậy có nghĩa là đứng dậy và ra khỏi giường bệnh; nhưng cũng có nghĩa là chỗi dậy khỏi cái chết để vào hưởng vinh quang của Chúa.

Phải chăng bất cứ người bệnh nào cũng có thể nhận lãnh bí tích này không?

Trước đây, người ta nghĩ rằng bí tích này chỉ được ban cho những người lâm chung (Extrema unctio), nhưng Công đồng Vaticanô II đã sửa đổi tên gọi là “Xức dầu bệnh nhân” (unctio infirmorum); tuy nhiên không phải bất cứ bệnh nào cũng cần được xức dầu, nhưng là “bệnh có nguy cơ dẫn đến cái chết”. Dù sao, bí tích này có thể ban nhiều lần trong đời chứ không phải chỉ một lần duy nhất.

Tại sao bí tích này được ban qua việc xức dầu?

Mọi bí tích đều mang một dấu hiệu hữu hình để biểu thị hiệu quả thiêng liêng, thí dụ nước để rửa là biểu tượng của sự tẩy rửa tội lỗi. Bởi vì nơi nhiều dân tộc, dầu được dùng như phương dược chữa bệnh, cho nên bí tích này dùng chất liệu ấy như biểu hiệu cho việc chữa lành thiêng liêng. Dầu được xức trên trán và hai bàn tay, tượng trưng cho những cơ quan gây nên tội, nghĩa là đầu (tư tưởng) và tay (hành động).

Ai có thể ban bí tích Xức dầu?

Thánh Giacôbê nói là các “kỳ mục”. Theo nguyên ngữ Hy-lạp, kỳ mục là presbyter (người lão thành), tương đương với các linh mục trong cơ cấu của Giáo hội hiện nay. Vào thời ấy, nhiều kỳ mục được mời đến để cầu nguyện cho bệnh nhân, ngõ hầu lời cầu nguyện của nhiều người mang lại kết quả phong phú hơn. Ngày nay, mặc dù chỉ một linh mục ban bí tích Xức dầu, nhưng ngài là đại diện của toàn thể Hội Thánh để cầu nguyện cho bệnh nhân.

VI. Bí tích Truyền chức thánh

Tại sao Chúa Giêsu lập bí tích này?

Các bí tích là dấu chỉ hữu hình để chuyển ơn cứu độ cho con người. Chúng ta biết rằng tác nhân chính của ơn cứu độ là Chúa Kitô. Để chuyển thông ơn cứu độ, cần phải có những tác viên biểu hiện Chúa Kitô, để hành động với quyền năng của Người, theo lời thánh Phaolô: “Mỗi người hãy coi chúng tôi như là những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1 Cr 4,1).

Trên thực tế, Đức Kitô đã ủy cho các môn đệ cử hành bí tích Thánh Thể (“Hãy làm việc này để tưởng nhớ Thầy”: Lc 22,19), cũng đã trao cho họ nhiệm vụ rửa tội (Mt 28,19), tha tội (Ga 20,23). Việc ủy nhiệm này bao hàm việc trao một quyền hành thiêng liêng để thi hành chức vụ nhằm “xây dựng Giáo hội” (x. 2 Cr 13,10). Sự trao ban quyền hành này được thực hiện qua những dấu hiệu hữu hình của cử chỉ và lời nói, cách riêng quyền cử hành bí tích Thánh Thể và tha tội[1].

Các tác viên tội lỗi có mất quyền cử hành bí tích không?

Quyền cử hành bí tích được trao qua bí tích Truyền chức sẽ tồn tại suốt đời nơi các tác viên chứ không mất đi do tội lỗi của mình. Thực ra việc chuyển ban ơn thánh vượt qua khả năng của con người, không tùy thuộc vào đức độ của con người, nhưng tùy thuộc vào quyền hành được Chúa trao ban. Họ cử hành bí tích nhân danh Chúa, chứ không dựa trên tài năng cá nhân. Vì vậy các tín hữu vẫn lãnh nhận ơn cứu độ qua những tác viên tội lỗi, bởi vì các tác viên chỉ là dụng cụ chứ không phải là nguyên nhân chính yếu của ân sủng. Mặt khác, Chúa Giêsu cũng có lần nói: “Trên tòa ông Môsê có những kinh sư và luật sĩ. Họ nói gì, các con hãy nghe và tuân hành, nhưng đừng làm như họ lầm, bởi vì họ nói mà không làm” (Mt 23,2-3). Các tác viên tồi tệ vẫn có thể trở thành dụng cụ của ơn thánh, tuy rằng đời sống thánh thiện của họ sẽ giúp cho vai trò dấu chỉ nổi bật hơn.

VII. Bí tích Hôn nhân

Tại sao cần có bí tích cho hôn nhân? Hôn nhân là một điều tự nhiên cho hết mọi người chứ đâu phải là của riêng Kitô giáo?

Các sinh vật được bảo tồn nhờ việc sinh sản. Điều này chung cho loài người cũng như động vật. Tuy nhiên nơi loài người, việc sinh sản được gắn liền với việc giáo dục con cái, vì thế cần đến định chế hôn nhân bền vững. Tuy hôn nhân là một định chế cho toàn thể nhân loại, nhưng chúng ta cũng có thể phân biệt nhiều loại hình. Như vừa nói, hôn nhân nhằm bảo đảm sự sống còn của dòng giống nhân loại. Bên cạnh đó, ta cũng có thể nghĩ đến hôn nhân như là định chế duy trì dân số của một quốc gia, và như định chế duy trì dân số của Hội Thánh. Từ đó, ta có thể nói đến nhiều loại quy tắc: có thứ quy tắc chung cho cả loài người, có thứ quy tắc riêng cho các phần tử Giáo hội.

Xét như nhằm đến thiện ích của Hội Thánh, hôn nhân tuân theo các quy định của Hội Thánh, vì thế là một bí tích. Hôn nhân Kitô giáo hệ ở sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ, hướng đến việc sinh sản và giáo dục con cái theo luật Chúa. Hôn nhân trở thành một dấu chỉ biểu hiệu cho tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi các tín hữu Êphêsô (Ep 5,32).

Như là một bí tích, ơn thánh được ban trong hôn nhân Kitô giáo qua các dấu chỉ, nhằm giúp cho các tín hữu sống ơn gọi của mình, tức là diễn tả sự hợp nhất giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Điều này bao hàm sự chung thủy giữa vợ chồng, tức là đặc tính bất khả ly, theo mẫu gương của Đức Kitô, Đấng không bao giờ lìa bỏ Hội Thánh (x. Mt 28,20).

Thần học thời Trung cổ nói đến ba thiện hảo của bí tích Hôn nhân.

1/ Sự thiện hảo con cái, mà cha mẹ phải đón nhận và giáo dục theo luật Chúa.

2/ Sự chung thủy, nghĩa là một người nam chỉ liên kết với một người nữ mà thôi.

3/ Bí tích, nghĩa là sự bất khả ly, biểu tượng của sự hợp nhất giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

Đến đây kết thúc mục về các bí tích. Mục tới sẽ bàn về cánh chung.


[1] Thánh Tôma còn bàn đến các cấp bậc của bí tích Truyền chức ở hai chương 75-76. Tuy nhiên kỷ luật hiện hành của Giáo hội đã thay đổi: không còn 7 chức (4 chức nhỏ và 3 chức lớn) như trước, mà chỉ còn chức giám mục, linh mục, phó tế. Vì thế chúng tôi không dừng lại ở những điểm này.

Chia sẻ